CHUYỆN CÀ KÊ SỐ 17
(THÁNG 04/2009)

Tô Vũ


MỤC LỤC

MỤC 1 - VĂN
1-1 - Chuyện người vợ tù cải tạo. Hồi ký Dương thị Năng
1-2 - Vạn lý thăm chồng. Bài của Thu Thủy
1-3 - Người thuyền chài và ông thần. Truyện thần thoại. Tiếp theo

MỤC 2 - THƠ
2-1 và 2-2 - Bài thơ của Robert Herrick và bài thơ của Ronsard. Bài viết của Tô Vũ
2-1 - To the virgins, to make much of time, thơ chữ Anh của Robert Herrick
2-1-1 - Cho người trinh nữ để tận hưởng thời gian. Bản dịch của David Lý lãng Nhân
2-2 - Pierre de Ronsard
2-2-1 - Bài thơ A Cassandre ( Mignonne, allons voir si la rose) của Ronsard
2-2-2 – Em yêu hãy ra xem hoa hồng nở, bản dịch của David LL Nhân
2-3 – François de Malherbe : Et rose, elle a vécu ce que vivent les roses.
2-4 – Giai thoại văn chương : Chết vì câu đối.
2-5 – THƠ DAVID LÝ LÃNG NHÂN
2-5-1 – Tình xuân măng trẻ muôn đời
2-5-2 - Hải âu gào sóng
2-6 – THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG
Trả ta sông núi

MỤC 3 - VUI BUỒN CÙNG BẠN ĐỌC
3-1 - Phần 1 - Hình ảnh thi quốc tế " Chồng chúa vợ tôi "
Giải 6 Serbie - Giải 5 Hoa Kỳ - Giải 4 Anh quốc –
Giải 3 Grèce Hi Lạp - Giải Nhì Ireland
Giải Nhất Đông Âu - Giải danh dự : Một xứ Ả Rạp xưa
3-2 - Phần 2 - Hình ảnh thi quốc tế " Chồng tôi vợ chúa "
Giải nhất : Cận đông - Giải nhì : Cận đông
3-3 - A DATE , bản chữ Anh
3-4 - Một cuộc hẹn - Bản dịch của Tô Vũ
3-5 - Bia bọt
3-6 - Tin buồn
3-7 - Diaporamas Văn Đức Trí
3-8 - Một tin vui ; Hàn Lệ Nhân
3-9 - Một bài thơ chua
3-10 - Thơ Hoàng Lan Chi . Tôi vào, em có vào không ?

MỤC 4 – NHAC NHAC NHAC
1- Người ở lại Charlie, nhac Trần Thiên Thanh, Nhật Trường hát
2- Cuộc tình đã mất, nhạc Xu-an Vinh, Khánh Ly hár
3- Em tôi, nhạc Lê trạch Lựu, Lời Lưu trợng Lư, Thi nhạc giao duyên Hồng Văn ngâm và Duy Trác hát
4- Besame Mucho, nhạc Mỷ thời 50/60, Dean Martin hát
5- Crazy love, nhạc Mỷ thời 50/60, Paul Anka hát
6- Fascination, nhạc Mỷ thời 50/60, Nat King Cole hát
7- If I give my heart to you, nhạc Mỷ thời 50/60, Doris Day hát
8- Unchained Melody, nhạc Mỷ thời 50/60, Elvis Presley hát

Hết

MỤC 1 - VĂN

1-1 - Chuyện người vợ tù cải tạo

Hồi Ký Dương Thị Năng

Tháng 4-1975, ngày giặc Cộng vào cưỡng chiếm miền Nam, ngày oan khiên nghiệt ngã nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Chồng tôi, một sĩ quan cấp Tá, Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cũng bị đi tù, và kể từ 15 tháng 6-1975, gia đình chúng tôi bị tan tác, chia lià, một mình tôi phải chịu trách nhiệm nặng nề nuôi dạy bẩy đứa con, đứa lớn nhất, 19 tuổi và nhỏ nhất mới lên 8.

Ngày chồng tôi đi tù, anh đang ở Sàigòn, gia đình ở Đà Lạt nhận tin anh sẽ đi trình diện ngày 15 tháng 6 và nhắn tôi về Sàigòn, nhưng thư đi chậm, tôi về tới nơi thi đã quá muộn, anh đã đi trước một ngày.

Ta có câu, "Con có cha như nhà có nóc", nay chồng tôi đi xa, 8 mẹ con tôi bàng hoàng trước cơn lốc thời cuộc,và từ đó, bắt đầu chuỗi ngày thê thảm cùng cực dưới sự cai trị bạo tàn và ngu xuẩn của lũ giặc dép râu nón cối.

Mới đây, tôi đọc "Lối Cũ Chẳng Sao Quên" của Bích Huyền, và ngậm ngùi cảm thương chị vô cùng. Nếu Bích Huyền không thể quên được những con đường khổ nạn đi đến Trại Tù K1, K2, K3, K4 ở rừng núi Việt Bắc chập chùng, thì những ngày tháng chồng tôi đi tù là Những Ngày Tháng Không Thể Nào Quên Được. Tôi ghi lại những dòng này để nhắc nhở cho mọi người, nhất là cho các thế hệ con cháu tôi KHÔNG QUÊN những sự tàn bạo, dã man, đê tiện của bọn giặc cộng cướp nước đã đày đọa dân tộc Việt Nam vào một cuộc sống thấp hèn, khổ cực và người dân bị áp bức, bóc lột nhất trong lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Những ngày đàu tiên, chồng tôi bị giam giữ tại Long Giao, rồi chuyển đến Trại Suối Máu, Biên Hoà. Khoảng giữa năm 1976, tôi dược tin VC đã chuyển tù ra Bắc. Mấy năm không gặp mặt chồng, nhưng tôi đã mường tượng nhìn thấy thân hình thấp nhỏ và gầy yếu của chồng tôi vì ăn uống thiếu thốn và lao động cực khổ.

Cuối năm 1978, tôi được thư anh cho biết đã chuyển về Trại Tù Nghệ Tĩnh số 6 (NT6) và trại cho tù được thăm gặp gia đình. VC không cho tù nói là thăm nuôi, vì trại đã NUÔI tù rồi, gia đình chỉ đươc thăm gặp, với một số đồ ăn tối thiểu. Tôi lấy vé xe lửa đi Vinh, lòng khấp khởi vui mừng và bồn chồn, mong sao thấy mặt chồng sau hơn 3 năm xa vắng. Ngồi chen chúc trên toa xe chật chội và dơ dáy, tôi vừa co chân lên cho thoải mái, lúc nhìn xuống thì một chiếc dép đã bị lấy mất rồi.

Xe lửa tới Vinh, tôi còn phải đi một đoạn đường dài trên 20km trên một xe hơi cũ kỹ, chạy lắc lư trên đường đầy ổ gà và bụi cát bay mù mịt. Xe chạy lắc mạnh đến nỗi đầu tôi đụng mạnh vào trần xe đau điếng. Đến bờ sông, xe dừng lại, chúng tôi phải khiêng các bao đựng đồ ăn xuống đò ngang.

Tôi thuê 3 chiếc xe đạp thồ, 2 chiếc chở mấy gói bao bị, còn tôi ngồi sau yên xe chiếc thứ ba. Đến những con dốc, tôi phải xuống xe đi bộ trên những đoạn đường gập ghềnh lồi lõm lởm chởm đá dăm nhọn sắc làm chân tôi rướm máu và đau buốt vì một chiếc dép đã bị mất. Lúc lên xe trở lại, tôi hoảng hốt vì không thấy 2 chiếc xe đạp chở đồ đâu cả, tôi lo sợ rằng họ có thể đạp xe vào những lối mòn ở hai bên đường, nếu họ lấy mất đi, làm sao tôi có thể mang đồ ăn cho chồng, thật uổng công nhịn ăn, góp nhặt chắt chiu từng món ăn trong thời buổi khó khăn này. Tôi cúi đầu thầm nguyện, và tạ ơn Thượng Đế, một lát sau, qua khỏi khu rừng, tôi thấy 2 chiếc xe ngừng ở ven đường. Chỉ còn hơn 1 km nữa thì tới trại Nghệ Tĩnh 6 (NT6), tôi phải mướn hai người gánh mấy bao bị thực phẩm về trại NT6.

Đến khu nhà thăm nuôi, trời đã gần tối, mấy chị em vợ tù chúng tôi được cho tạm trú ở khu nhà thăm nuôi, một căn nhà lá ọp ẹp, trong căn phòng nhỏ ngăn vách bằng tấm liếp nứa. Gần khu thăm nuôi, có mấy ngôi mộ mới, đất mầu đỏ quạch, nằm chơ vơ dưới nắng chiều. Tôi thầm nghĩ, "đây hẳn là mộ mấy anh tù xấu số." Qua một đêm gần như thức trắng vì những con rệp đói nhào ra tấn công, làm chúng tôi ngứa ngáy hầu như khắp mọi chỗ trong người. Chị bạn nằm gần tôi kể lại là có lần có chị đi thăm chồng ở một trại khác, nửa đêm có người bịt mặt, vào trong phòng, lấy các đồ thăm nuôi rồi rút êm, làm tôi mất ngủ vì lo sợ.

Sáng hôm sau tiếng kẻng báo thức vang lên, tôi thức dậy cùng các chị bạn, chuẩn bị nấu chín một ít đồ ăn, và nấu một nồi xôi, chờ đợi các anh tù. Một tên cán bộ mặt mũi nghiêm trọng bước đến tự giới thiệu và căn dặn: "Khi gặp các anh ấy, các chị phải động viên các anh học tập tốt 'nao động' tốt, trở thành người công dân 'nương thiện', sớm được hưởng 'nượng' khoan hồng của cách mạng. Các chị không được khóc, vì sẽ 'nàm' các anh ấy 'nụt' chí, như vậy, các anh ấy còn bị phạt nữa."

Chúng tôi cũng dặn nhau phải can đảm, phải nén lòng, đừng để các anh ấy bị rắc rối. Mấy chị em đều gật đầu, nhưng mọi người đều nước mắt lưng tròng rồi.

Chúng tôi cùng ra cửa ngóng về phiá trại, một lát sau, có một toán người tù, kẻ vác bị, người đẩy xe cải tiến, lầm lũi đi về phía nhà thăm nuôi, có một tên VC vác súng dài đi áp tải. Tất cả đều ăn mặc quần áo lành lặn, nhưng phần lớn đều gầy gò, nét mặt tiều tụy, ẩn nhẫn và chịu đựng. Tôi chăm chú nhìn toán người tù, nhưng không thấy chồng tôi đâu cả, mãi về sau, mới thấy một người gầy ốm, thấp nhỏ bước vào, bước chân lảo đảo. Tôi nhận ra chồng tôi, xưa anh uy nghi mạnh mẽ bao nhiêu thì giờ đây xơ xác, tiều tụy bấy nhiêu, ý nghĩ đó làm lòng tôi quặn thắt; anh đội chiếc nón lá rách rưới, chỉ còn chiếc chóp nhỏ như nón người lính thú đời xưa; đôi chân mốc meo khẳng khiu lê trên đôi dép râu buộc chằng chịt bằng giây thép, nước da anh nhợt nhạt như người sốt rét kinh niên; đôi mắt lờ đờ, tròng trắng đã ngả vàng, không còn vẻ tinh anh như trước. Anh bước đi, lao đao như muốn ngã, tôi muốn chạy lại đỡ anh, nhưng tên VC đã ngăn tôi lại.

Tên cán bộ phụ trách thăm nuôi gọi từng tên người tù và thân nhân ngồi ở hai bên một chiếc bàn lớn, và hắn ngồi chính giữa. Tôi cho chồng tôi biết tin tức gia đình, anh lắng nghe, giọng xúc động, hỏi thăm tin tức cha mẹ; anh vui mừng khi biết cha mẹ ở California vẫn bình yên và hằng cầu nguyện cho anh sớm được trở về đoàn tụ. Nhìn mắt anh hướng về phiá tên VC với cái nhìn căm hờn, tôi sợ hãi, xin anh nhịn nhục, "nín thở qua sông" để còn có ngày về gặp lại vợ con.

Chỉ 20 phút sau, tên cán bộ cho lệnh mở các gói quà để "điểm nghiệm"; mọi món đồ phải tháo giây buộc, đổ ra một cái thau để xem có giấu thư từ, tiền bạc trong đó không, và tôi phải để lại một số đồ ăn, mà chúng cho là quá quy định, mặc cho tôi năn nỉ hết lời. Tôi ngậm ngùi nhìn theo anh chất mấy món đồ lên xe cải tiến đẩy vào trại.

Giờ đây, nước mắt tôi mới trào ra, không những tôi, mà các chị em khác cùng khóc thương những người chiến sĩ sa cơ, nay bị lũ giặc đày đọa trong cảnh ngục tù. Trên đường về, tôi gặp mấy anh tù đi làm gần cổng trại, tôi tặng hết mấy món đồ còn lại cho các anh.

Về Sàigòn, tôi đau lòng nhìn lũ con dại bơ vơ vì thiếu bố, tinh thần tôi bị suy sụp, không biết phải xoay xở cách nào để nuôi đàn con. Tôi cầu nguyện xin Thượng đế cho tôi đủ sức mạnh và lòng can đảm để vượt qua chặng đường thử thách cam go này.

Sau những ngày mệt mỏi chán chường và quẫn trí, tôi đã lấy lại bình tĩnh, suy nghĩ đến trách nhiệm và bổn phận, nên tự nhủ là sẽ hết sức phấn đấu, chịu đựng mọi hoàn cảnh thử thách, thay chồng nuôi dạy con nên người. Tôi cũng bắt chước các chị em bạn buôn bán lặt vặt ở bên hông chợ Bến Thành. Hồi đó, Công an Cộng sản được lệnh không cho ai buôn bán bất cứ một món gì trên hè phố. Tôi lấy một miếng nylon trải trên lề đường, bày ít đồ lặt vặt thường dùng và những quần áo cũ. Các chị bạn tôi thường nói đùa là "chà đồ nhôm" (chôm đồ nhà) để sống qua ngày. Mỗi lần Công an VC xuất hiện và có tiếng hô: "Bò vàng! Bò vàng!" là tôi túm bao nylon bỏ chạy, văng cả dép, tóc tai xổ tung trông chẳng giống ai! Chịu đựng nắng mưa, sớm đi tối về, cuộc sống thật là trăm ngàn nỗi đắng cay tủi nhục. Có những lúc cơn mưa rào đổ xuống thật bất ngờ, tôi ôm túi quần áo cũ, nép dưới mái hiên nhà, lòng buồn nhớ chồng trong chốn ngục tù, thương các con nhỏ dại bỏ bê ở nhà không ai chăm sóc mà căm hờn quân giặc nước.

Con gái thứ tư của tôi, cháu Duyên Thơ, có viết mấy câu lục bát làm tôi bồi hồi vô hạn:

"... Mẹ tôi núp dưới hiên nhà.
Từng cơn mưa lạnh, xót xa mẹ hiền."

Có những buổi đi chợ về, người rã rời mệt mỏi, muốn nằm nghỉ cho rãn xương cốt, nhưng lại nghe tiếng con gọi: "Mẹ ơi, Công an Phường bảo chiều nay đi họp."

Trong căn phòng trụ sở phường, một tên cán bộ đứng nói về chính sách của cách mạng, đường lối khoan hồng của Bác, Đảng; những thính giả bất đắc dĩ, phần lớn là phụ nữ, ngồi lê lết trên sàn xi măng lồi lõm, trong bóng tối mờ mờ, người thì ngủ gật, kẻ thì ngồi ngáp dài vì đã nghe nói quá nhiều.

Cuộc sống trôi qua trong buồn thảm vì thiếu thốn, về vật chất là lẽ đương nhiên, nhưng về tinh thần, sự kiềm chế của Cộng sản làm người dân Sàigòn cảm thấy ngay từ ngày giặc vào cưỡng chiếm miền Nam là Tự do bị cưỡng đoạt.

Trong hoàn cảnh khó khăn ấy tôi tự nhủ là phải cố gắng sống vì tương lai của các con, nên dù vất vả nhục nhằn đến đâu tôi cũng cố gắng chịu đựng. Tôi không còn trẻ nữa, lúc chồng tôi đi tù, tôi ở tuổi ngoài 40. Tôi không nghĩ rằng mình còn trẻ, đẹp, nhưng bạn bè đều nói tôi là một phụ nữ khả ái; điều này được chứng tỏ là có những tên VC, có thể chúng là sĩ quan Cộng Sản hay cán bộ cao cấp gì đó, thường đến sạp hàng cuả tôi ở chợ An Đông, lân la, gợi chuyện, mua chuộc tình cảm, có tên sỗ sàng dám sà vào ngồi cạnh chỗ ngồi bán hàng của tôi. Nhưng lần nào cũng bị tôi nghiêm sắc mặt nhưng lịch sự đuổi nó đi chỗ khác.

Những ngày tháng gian khổ, thiếu thốn, một nắng hai sương, tôi hết sức dành dụm, dè sẻn, mua được món gì ngon là tôi để riêng ra cho lần đi thăm tới. Có lần tôi nhận được một lá thư nhỏ bằng bàn tay có viết 4 câu thơ:

"Đã mấy năm nay quằn quại đói
Thèm ăn như đứa trẻ con nghèo
Mẹ ơi! Con nhớ thời thơ dại,
Những món ăn mà mẹ chắt chiu..."

(thơ Tô Thùy Yên)

Dưới bài thơ, có chữ ký tắt: G. N.Y.D Tôi bồi hồi đọc bài thơ chỉ có 4 câu và biết chắc đó là chồng tôi nhắn tôi ra thăm, vì bốn chữ G.N.Y.D là viết tắt của Gọi Người Yêu Dấu là một bài hát chồng tôi viết trước năm 1975. Tôi lập tức cho cháu Quỳnh Giao ra Nghệ Tĩnh thăm bố. Cháu Quỳnh Giao được bố cho biết rằng bốn câu thơ trên là của Tô Thùy Yên do bố cháu chép lại, đề địa chỉ người nhận, rồi khi đi lao động, bố cháu bỏ ở bên đường. Đồng bào nhặt được biết là của tù, liền mua tem, gửi về cho gia đình. Cháu Quỳnh Giao có viết mấy dòng ghi lại buổi gặp mặt của hai bố con như sau:

"Ngày 17-10-1979...
Thế là ta đã gặp bố rồi. Trông thấy bố, ta chạy lại ôm choàng lấy bố, khóc nức nở. Bố vuốt tóc ta: "Nín đi, con gái yêu qúy của bố. Lớn rồi còn khóc người ta cười cho!"

Sau hơn 4 năm ngục tù, bố đã già đi và gầy ốm quá! Những sợi tóc đã bắt đầu lốm đốm bạc, nhưng mắt bố vẫn sáng ngời sau cặp kính long lanh. Bố tháo kính cầm tay, rồi lại đeo kính vào "Để bố nhìn con gái bố rõ hơn. Xem nào! Con đã 22 tuổi rồi mà vẫn xinh xắn dễ thương như ngày nào".

Thấy bố nói vậy, ta thương bố không cầm được nước mắt. Bố nắm tay ta, kể vài câu chuyện vui để làm ta bật cười mà nước mắt vẫn tuôn rơi lã chã. Bố có vẻ vui mừng khi nghe ta nói chuyến này mẹ gửi cho bố các món ăn bố ưa thích. Giờ phút gần bố thật ngắn ngủi. Khi chia tay rồi, ta ngậm ngùi nhìn theo bố cong lưng kéo chiếc xe cải tiến chất đầy quà, hình như bố có vẻ hí hởn lắm! Khi bố ngoảnh lại ở chỗ rẽ, bố có nhìn thấy con gái bố tựa cửa nhìn theo, trên mặt đầm đìa nước mắt không?Ta còn nán lại nhà thăm nuôi hai ngày, và đứng ngóng đoàn tù đi lao động xem có thấy bố một lần nữa không, nhưng chẳng thấy. Hẳn là các chú các bác tù cũng ngạc nhiên thấy một cô bé mắt đỏ hoe, đứng ngóng đoàn tù như muốn tìm kiếm ai..."

Tôi tình cờ đọc mấy giòng chữ của con mà thương chồng, thương con vô hạn...

Hồi đó, phong trào vượt biên làm xôn xao Sàigòn. Tôi suy nghĩ về tương lai các con. Phải đi tìm đường sống cho các con vì nếu ở lại thì sợ có ngày con trai tôi đến tuổi phải di nghĩa vụ rồi sẽ phải làm bia đỡ đạn cho giặc cộng ở Campuchia thì khi gặp lại chồng tôi, tôi biết ăn nói làm sao? Vả lại, viễn ảnh kinh hoàng khi con một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải đội mũ cối, đi dép râu, mang khẩu AK trên vai cũng làm tôi rùng mình khi nghĩ tới điều sỉ nhục ấy. Cho nên, tôi đã bán tất cả nữ trang và các đồ vàng bạc, đá qúy, đã dành dụm được cho các con vượt biên. Tôi cũng rất e sợ khi nghĩ tới sóng biển, hải tặc, nhưng xin phó thác các con tôi vào tay Chúa, với niềm tin các con tôi sẽ tới được bến bờ tự do.
Lần thứ nhất, con gái thứ tư, Giao Duyên, tới Malaysia bình yên, được ông bà nội bảo lãnh về Pasadena, California. Lần sau, ba đứa lớn, Quỳnh, Giao, Dũng bị bắt giam mấy tháng, riêng Dũng bị giam hơn 2 năm. Trong thời gian ấy, tôi phải chuẩn bị nhiều bao bị khác nhau để đi thăm chồng và ba con. Tôi như lên cơn sốt vượt biên, có chút tiền để dành nào cũng gom góp cho con đi tìm tự do; sau hàng chục lần thất bại, nhưng không nản lòng. Rút cục, Dũng cũng đã ra tù, vượt biên qua ngả đường bộ đến Thái Lan và tới Mỹ năm 1983, riêng vợ chồng Quỳnh Giao và Dũng Tuấn, con trai út mãi tháng 9-88 mới đến Mỹ, đúng vào thời gian chồng tôi được trả tự do!

Khoảng giữa năm 1986, ở trại tù Xuân Phước một anh tù trẻ đưởc tha về, đưa cho tôi một ca khúc chồng tôi viết, tựa đề là "Đóa Hồng Cho Vợ Hiền."

Anh tù trẻ kể lại rằng: "Em nói với anh N. là nếu anh ký tên thật thì VC không cho mang về đâu. Sau anh phải viết là: nhạc của Liên Xô nên đã mang về được!"

Các con tôi đàn và hát bài này, tôi rất cảm động khi nghe bài hát anh gửi cho tôi. Phần mở đầu, anh viết về một gia đình sống êm đềm ở một thành phố thơ mộng kia, bỗng đâu một ngày trời làm biển dâu, giặc tràn vào, gia đình tan tác chia lià, nhưng hãy tin rằng mùa đông băng giá rồi sẽ qua đi, đêm tối sẽ tan dần, ngày vui sẽ tới, sẽ không còn nước mắt, không còn ly tan.

Anh kết luận:

Xin cho tôi hôn mái tóc điểm sương
Xin cho tôi hôn vầng trán ưu phiền.
Xin cho tôi hôn đôi mắt héo hon
Năm tháng mỏi mòn, chờ người xa vắng.
Cho tôi nâng niu bàn tay chai sần
Thay chồng nuôi con một đời vất vả,
Cho tôi dâng em một đoá hoa hồng,
Đóa hoa tuyệt vời trong đáy lòng tôi...

[nhạc Vũ Đức Nghiêm]

Tôi nghe bài hát mà lòng xúc động vô cùng vì tôi biết rằng trong tận cùng khổ đau, tâm hồn chồng tôi vẫn lãng mạn, và như nhà văn Duyên Anh đã nói, một thứ "lãng mạn ngục tù", nhờ đó anh vẫn làm thơ, viết ca khúc để nguôi vơi những nỗi khổ đau trong tháng ngày tù ngục. Và tôi tự hào về chồng tôi, cũng như bao anh em cựu sĩ quan, cựu chiến sĩ dù sống hơn 10 năm trong ngục tù cộng sản, nhưng vẫn vững tin vào chính nghiã tự do và tương lai dân tộc.

Đầu năm 1988, nhân dịp Tết Mậu Thìn, Sàigòn xôn xao về tin: sẽ có rất nhiều người được thả về, sẽ đi xe lửa về ga Hoà Hưng Sàigòn. Lòng chứa chan hy vọng, tôi đi cùng cháu Duyên Thơ ra ga chờ đòan tàu về. Qủa là có khá nhiều người tù vui mừng bước xuống sân ga được thân nhân tiếp đón mừng rỡ. Chờ đợi mãi cho đến khi người tù cuối cùng rời khỏi sân ga, mà không thấy anh, mẹ con tôi mới quay về. Cháu Duyên Thơ ôm tôi khóc nức nở, còn tôi thì không khóc nhưng lòng tôi tan nát, không biết có chuyện gì không may đã xẩy ra cho anh và tại sao Tết này anh vẫn chưa được về? Đêm ấy trước khi ngủ, tôi cầu nguyện Chúa với một trái tim tan vỡ vì tuyệt vọng, và tôi xin Chúa cho tôi can đảm và nghị lực chờ ngày anh về. Chừng nửa tháng sau, tôi được thư anh nói là bị đau nặng, tôi vội gửi gấp thuốc men và thực phẩm cho anh.

Cho đến đầu tháng 9/1988, anh mới được trả tự do, một mình một danh sách; anh là người tù cải tạo cuối cùng được trở về từ trại Xuân Phước sau 13 năm, 2 tháng, 16 ngày tù ngục. Rốt cục, sau nhiều ngày tháng chờ đợi và làm thủ tục xuất ngoại, gia đình chúng tôi đã tới phi trường San Francisco ngày 1 tháng 11-1990, theo chương trình HO-04. Đến nay chúng tôi đã định cư ở California được hơn 16 năm.
Gia đình chúng tôi được xum họp gần như toàn vẹn, chỉ còn gia đình con gái Duyên Thơ đang xin visa, hy vọng sẽ qua Mỹ trong năm tới. Tôi muốn nói lên lòng biết ơn Thượng Đế đã phù hộ, gìn giữ che chở gia đình chúng tôi trong những ngày tháng khốn cùng, với những cơn sóng gió bão bùng kinh hãi nhất của đời người. Chúng tôi cũng biết ơn Chính phủ Mỹ và dân tộc Mỹ đã mở rộng vòng tay cho chúng tôi được nhập tịch và sống tại vùng đất trù phú này. Dù ở một nơi tương đối thanh bình trong một đất nước giầu mạnh, nhưng lòng chúng tôi luôn hướng về quê hương khổ đau và cầu nguyện cho quê hương và đồng bào sớm được giải thoát khỏi tay bọn giặc cộng bạo tàn và được sống trong tự do, thanh bình và no ấm.

Dương Thị Năng
(bài của ông Văn Long Trần gửi tới. Cảm ơn ông Văn Long Trần)

****************************************************************************************

1-2- Vạn Lý Thăm Chồng

Bài của Thu Thuỷ
Thương tặng các bạn gái đồng cảnh ngộ)

Ðã gần 19 năm sống tha hương, mỗi lần nhìn mưa phùn rả rích lất phất rơi đem theo cái lạnh cắt da, mình cảm thấy lòng se thắt lại, nhớ hoài kỷ niệm thật buồn khi cùng ba con nhỏ dại băng rừng vượt suối ra tận Thanh Hóa tiếp tế lương thực cho anh Trường.
Chuyến đi nhiều gian nan ấy hằn sâu trong tâm khảm mình mặc dầu đã 21 năm rồi từ ngày bốn mẹ con dắt díu khệ nệ khiêng từng thùng thiếc bao bị đệm cả hơn trăm ký lô đồ ăn lên tàu Thống Nhứt ra Thanh Hóa.

Mình còn nhớ rõ buổi chiều ấy thật ảm đạm, nắng đã tắt từ lâu như tia hy vọng mong chồng được thả về đã tiêu tan, lòng nặng trĩu âu lo, mình cùng cậu Thu em trai của chị Tố Nga chuyển các thùng đồ ăn nặng trĩu lên tàu (chồng chị Tố Nga cùng ở chung trại Thanh Hóa, chị cảm thông mình đơn chiếc yếu đuối nên cho em trai ra ga Lê Lai phụ mình). Sau khi đã kiểm kỹ lại các thùng thiếc và chắc chắn không cái nào bị mất mát, cho các con ngồi vào toa xong, mình vội vã cám ơn cậu Thu, lúc ấy cũng hấp tấp nhảy mau ra khỏi toa vì một hồi còi tàu rú lên, báo hiệu tàu sắp rời ga.

Lần đàu tiên trong đời được đi xe lửa, ba con mình ngạc nhiên lạ lùng mở to mắt nhìn các trẻ nhỏ cùng lứa tuổi đang nô đùa trong các dãy nhà san sát cạnh đường rầy dọc theo xóm Bàn Cờ, Hòa Hưng, Phú Nhuận, Bình Triệu. Mặc dầu mình đã nói trước với các con là bốn mẹ con sẽ đi thật xa ra Bắc thăm Ba, đem đồ ăn tiếp tế cho Ba nhưng hai đứa con trai còn quá nhỏ, trí óc non nớt không mường tượng nổi rằng đây là cuộc hành trình gian nan dài cả 1200 cây số. Chỉ có con gái đầu lòng Thủy Tiên khôn lanh và lớn hơn, mơ hồ cảm thấy không phải là một chuyến đi bình thường nhiều thú vị như khi xưa cùng đi với cả gia đình ra Vũng Tàu hoặc lên Ðà Lạt. Thủy Tiên thu mình lại, ngồi rúc vào một góc băng, cặp mắt xoe tròn, lo âu nhìn các hành khách xa lạ chung quanh. Sơn, Tùng vô tư lự và hiếu động, ngồi không yên, tò mò chạy lăng xăng trong toa. Mình xót xa nhìn các con thầm cầu nguyện cho bốn mẹ con được bình an suốt cuộc hành trình.

Ðêm đến bốn mẹ con co rút ngồi sát vào nhau, cố dỗ giấc ngủ một cách khó khăn. Ðùi mình tê cứng, sưng húp lên vì muốn cho các con được ngủ thoải mái, mình luân phiên kê đầu mỗi đứa trên đùi mình, để các con đỡ mệt. Lưng mình đau rả rời vì ngồi suốt mấy tiếng đồng hồ bất động. Ngồi kiểu nầy suốt ba ngày ba đêm chắc chết mất, mình nhủ thầm, ngao ngán và mệt mỏi. Liếc mắt thấy các người đồng hành mạnh ai nấy tìm một khoảng trống nhỏ dưới chân hoặc ngay cả lối đi chật hẹp để trải tấm nylon nằm cho đỡ mỏi lưng, mình cũng bấm gan trải đại các tờ báo dưới băng, kêu Sơn Tùng thu mình co chân lại nằm đỡ, nhờ vậy Thủy Tiên có thể tạm thời nằm dài ra trên băng cây (có đến ba người lớn ngồi chen chúc trên một băng). Mình thì chịu đựng hết nổi, lăn kềnh ra ở lối đi, đắp vội cái khăn quàng cổ lên mặt để bụi cát từ giày dép các hành khách qua lại không rơi vào mắt. Chưa bao giờ mình thấy thấm thía câu "buồn ngủ gặp chiếu manh" như lúc nầy. Bốn mẹ con nằm được "thoải mái" hơn, đỡ tê cóng chân tay, nên mệt mỏi ngủ thiếp đi, đến sáng lúc nào không hay, mặc dầu trong đêm bao nhiêu chân thản nhiên bước qua người và đầu cổ mình. Thiên hạ nằm la liệt : người lớn thì tràn ngập lối đi, trẻ con nhỏ người hơn cố chui rúc xuống gầm băng, các bộ đội quen ngủ võng trong rừng thì treo võng nằm vắt vẻo như vượn, đong đưa qua lại tỉnh bơ trên đầu hành khách. Quang cảnh trong toa thật hỗn độn chưa từng thấy : tiếng ho, tiếng khạc nhổ, tằng hắng, tiếng trẻ nhỏ la hét khóc ban đêm, xen lẫn tiếng đập ruồi muỗi chát chúa, chưa kể lâu lâu nước tiểu trẻ con đái dầm ban đêm chảy dài loang ra sàn thối tha dơ bẩn.

Trời hừng sáng bốn mẹ con lồm cồm ngồi dậy, áo quần nhớp nhúa hôi hám, phờ phạc người, thấy ai nấy đều lấm lem, lấy lon hoặc ca súc miệng, phun ra cửa sổ toa, làm vệ sinh lau mặt ngay tại toa. Ban đầu còn ái ngại, sau đó mình cũng quen đi, thản nhiên cho các con súc miệng như mọi người. Tàu ngừng ở các ga lẻ ở miền Trung, cảnh buôn bán tấp nập vô trật tự : ai cũng hấp tấp mua bán vì sợ tàu chạy bất thình lình, không kịp đưa hoặc thối tiền.Thôi thì tiếng la ó cãi vả mắng chửi chí chóe nổi lên, đinh tai nhức óc. Thủy Tiên, Sơn, Tùng mừng rỡ vì được dịp ăn các món cháo lòng, miến gà, cơm tấm bì, cơm sườn, hột vịt lộn, bán dọc theo các ga. Ðã năm năm nay từ sau 75, quen ăn uống kham khổ, các con ngạc nhiên thấy lần nầy mình cứ mua tới tấp đồ ăn, đâu có ngờ rằng sở dĩ mình phung phí là mình lo các con mệt đói, ngả bệnh không đủ sức để tiếp tục băng rừng vô trại. Mình thì ngao ngán ăn uống qua loa cho có sức cầm cự, nôn nóng mong sao cho tàu mau đến Thanh Hóa, chán chường nhìn thắng cảnh qua cửa sổ mặc dầu dọc đường có biết bao bãi biển xanh biếc và núi non hùng vĩ của miền Trung.

Sau ba ngày trời ròng rã sống trong địa ngục hôi hám của toa xe chật chội dơ dáy, bốn mẹ con đến Thanh Hóa. Lại một phen chật vật, chen lấn, mồ hôi nhễ nhãi, bốn mẹ con mới khệ nệ khiêng đủ các thùng thiếc nặng cồng kềnh xuống ga. Thật là "trầy da tróc vảy" vì chỉ cần sơ hở một chút thì bị mất cắp đồ hoặc bị móc túi ngay. Sơn mới mười tuổi đầu hơn còn Tùng chưa đầy chín tuổi, nhưng đã tỏ ra bảo bọc che chở má và chị yếu ớt, giành xách các bao bị đệm to. Nhìn các con nhỏ bé khẳng khiu oằn vai dưới gánh nặng mình đau lòng tủi thân vô cùng. Vì đâu mà nên nỗi nầy? Mình cắn răng để khỏi bật khóc, mím môi nhìn lên trời xanh, thầm cám ơn ơn Trên đã phù hộ bốn mẹ con đi đường bình an vô sự.

Ðường vào trại xa cả năm chục cây số mà đã xế chiều hết xe đò đi ngang trại, nên bốn mẹ con đành phải vào tạm trú ở nhà trọ gần ga. Nói là nhà trọ, nhưng thật sự chỉ là những tấm phên tạm dựng lên sơ sài, trong có nhiều giường tre ọp ẹp cho khách mướn nghỉ đêm đỡ, đợi sáng sớm hôm sau lấy xe đò vô trại. Bốn mẹ con kinh hoàng chui rúc nằm trên chõng tre cũ kỹ xiêu vẹo. Mình lấy các thùng thiếc bao bị sắp xếp lại, và tấn xung quanh cái mùng rách nát vá víu cả trăm lỗ, vì nghe nói đồ ăn để ngoài mùng sẽ bị chuột cống chiếu cố. Ðêm đó mình phải đương đầu, dương Ðông kích Tây với lũ muỗi đói vo ve bay tới tấp, xuyên theo các lỗ rách của mùng. Nhưng hãi hùng nhứt là mục kích từng đoàn chuột cống kếch xù đánh hơi mùi đồ ăn, chạy lúc nhúc xung quanh các thùng thiếc y như những bóng ma trong các phim kinh dị. Nửa đêm, Sơn bị "Tào Tháo rượt", mình phải bấm gan rùng mình dẫn con ra nhà vệ sinh nhớp nhúa tận sau hè, tối om và thối tha. Hai mẹ con sợ hãi gớm ghiếc không dám nhìn cái thùng phẩn đầy dòi và ruồi nhặng, lại càng thêm rùng mình rợn xương sống khi trở về giường dưới bóng cây đa, với tàn lá âm u ma quái.

Tờ mờ sáng, mình giật mình vội đánh thức các con dậy để cùng nhau gom góp hành lý, khập khểnh khiêng lần ra bến xe đò gần đó, sắp hàng mua vé. Chen vai thích cánh với làn sóng người hỗn độn, nón lá rách bươm, mình mớỉ khổ sở giành giựt mua được vé xe đò vào gần trại. Sau khi chuyển được đồ đạc lên xe, mình thở phào ôm các con ngồi vào băng phía cuối xe. Mình tự phục thầm lấy mình là không hiểu có sức mạnh phi thường nào mà mình có đủ sức cùng các con khiêng lên xe cả trăm kí lô lương thực. Chiếc xe đò già nua sét rỉ, chậm chạp lăn bánh... Gió mát buổi sáng tinh sương hiu hiu thổi, Thủy Tiên, Sơn, Tùng lim dim ngủ gà ngủ gât, vì đêm qua không được ngon giấc bởi lũ chuột và muỗi. Nhìn các con ngủ thơ ngây như thiên thần, mình cảm thấy ruột gan se thắt lại. Một ông lão nông dân ngồi gần thấy cảnh bốn mẹ con lặng lẽ nắm tay nhau, thu mình trong góc xe, tỏ vẻ ái ngại hỏi thăm. Mình bâng quơ trả lời qua loa, lòng tự ái không muốn ai thương hại. Lâu lâu đi ngang các ổ gà, xe giằng mạnh, tung xốc các hành khách ruột gan như muốn lộn ra ngoài. Xe chạy độ một tiếng rưỡi thì ngừng trước một lều tranh được dựng bên đường, nơi điểm hẹn sẽ có xe trâu mỗi ngày từ trại ra đón các thân nhân trong Nam ra thăm nuôi trại viên. Bốn mẹ con tụt xuống xe, quần áo xốc xếch đầy bụi bặm, mặt bơ phờ thiểu não.

Mình vội kiểm lại đồ đạc, mừng rỡ thấy không bị mất mát hư hao vì trộm cắp và lũ chuột. Mình xoa đầu ba con khuyến khích khen "Các con giỏi lắm, đã phụ Má xách đồ ăn nặng cho Ba mà lại ngoan nữa. Ba sẽ rất mừng gặp lại các con và biết ơn Má con mình đã đem đồ ăn ra cho Ba". Thủy Tiên, Sơn, Tùng lặng lẽ không đáp, chỉ nắm chặt tay mình lại, lòng mình ấm lại, bao nhiêu nỗi nhọc mệt như tan biến, vì biết rằng bên mình còn có các con ngoan. Mình nhủ thầm : "Can đảm lên! Mình đã gần tới đích rồi! Ðường đi dầu có hiểm trở cách mấy, mình cũng không ngại. Chỉ còn một đoạn đường ngắn nữa thôi! Cố gắng lên!"

Ðúng như các chị bạn đi thăm nuôi trước đã nói : một lát sau tới giờ hẹn, một người đàn ông đánh xe trâu lù lù tiến ra lều tranh. Bốn mẹ con mừng rỡ, lại một phen vất vả, chất đồ đạc lỉnh kỉnh lên xe, sau đó lầm lũi theo sau xe trâu. Con trâu già chậm chạp kéo chiếc xe. Tiếng bánh xe khô nhớt cứ cót két vang lên, người đàn ông thì lầm lì ít nói. Trời nắng gắt nhưng lạnh vì lúc ấy đã vào tháng ba. Bốn mẹ con bỡ ngỡ rảo chân bước mau theo xe, ba con chạy lúc thúc sát theo mình, ngây ngô chỉ chỏ cảnh vật, hỏi han lăng xăng chừng nào sẽ gặp lại Ba. Như người không hồn, mình im lặng nối gót theo các con, âm thầm thất thểu đi. Vô tư lự, Thủy Tiên, Sơn, Tùng hồn nhiên tung tăng chạy nhảy dọc theo đường mòn thích thú khi gặp các hoa dại tím mọc cạnh dòng suối con, ba đứa hái vài cành hoa buộc lại thành một bó nhỏ, nói với mình là để tặng Ba, làm mình càng xúc cảm, se thắt cả lòng.

Xa xa núi Lam Sơn mờ hiện ra và thấp thoáng kế bên là trại Lý Bá Sơ. Núi rừng tĩnh mịch âm u làm mình chợt rùng mình khi nghĩ đến các anh phải chôn vùi những ngày dài nơi sương lam chướng khí nầy, không biết ngày nào đoàn tụ với vợ con. Mình vội xua đuổi ý nghĩ hắc ám ấy, giựt mình khi nghe Tùng than mỏi chân quá. Mình vội bồng con lên, cố gắng lê bước theo xe trâu. Không hiểu nghĩ sao, người đàn ông lại lên tiếng ngắn ngủi "Chị cho cháu nhỏ ngồi đỡ một đoạn lên xe đi." Tùng mừng rỡ vội nhảy thót lên thùng thiếc ngồi trong lúc Thủy Tiên, Sơn lộ vẻ bất bình, trừng mắt nhìn Tùng. Mình thở dài chép miệng nói nhỏ với hai đứa lớn. "Thôi! Em nó còn nhỏ mà con!"

Gần xế chiều, con trâu già phì phèo nước bọt tiến vào trại, bốn me con thiểu não lê gót theo, dép cứ bị sình ướt nhầy nhụa trên đường bám chặt thật khó đi. Thấy Thủy Tiên, Sơn bực dọc giựt mạnh dép lên than thở trơn trợt khó đi, người đàn ông cười khẩy mỉa mai nói: "Ðất nầy nó như thế đấy, cứ thích bám chặt mãi lấy người đi". Mình nhếch mép ngoảnh mặt nhìn nơi khác, chả buồn đối đáp. Trút tất cả các thùng bao bị vào nhà tiếp tân, mình cảm thấy như trút đi một gánh nặng trĩu đè lên vai mình suốt mấy ngày nay.Ðầy đủ đồ ăn tiếp tế và thuốc men đã được an toàn vô tận trại. Mình mừng khấp khởi nghĩ nhờ cả trăm ký lương khô và thuốc men nầy mà chồng mình sẽ có sức khỏe để chống chọi với rừng thiêng nước độc.

Trong nhà tiếp tân mới xây cất xong (oái oăm thay sau nầy mình mới nghe nói lại là nhà nầy do đội Xây dựng của anh Trường vừa xây xong chưa kịp lắp cửa nữa), ngoài bốn mẹ con còn có chị Lang từ Gò Công và chị Cao từ Thủ Thiêm ra thăm chồng trước mình một ngày. Hai chị đã được nói chuyện với chồng lúc trưa, nhưng trễ quá không còn xe trâu đưa ra đường cái đón xe đò về Thanh Hoá nên hai chị nán ngủ qua đêm đợi mai sáng về cho đỡ nguy hiểm. Nhìn nét mặt dàu dàu buồn của hai chị, mình cảm thông sâu xa nỗi buồn nhớ mong ấy. Khắc khoải đợi chờ, hăm hở từ trong Nam xuôi ra Bắc vượt ngàn dặm, băng rừng vượt suối, bất chấp hiểm nguy đang chờ đợi mình, để rồi được hội ngộ ngắn ngủi với chồng chỉ trong nửa tiếng, không được một cái nắm tay vội vã, chớ đừng nói chi một nụ hôn thắm thiết, còn gì thảm não cho bằng.

Cho các con ăn qua loa xong, mình ra tận phía sau, dắt các con đại tiện trong nhà vệ sinh nhỏ tạm thời được cất lên thật thô sơ và như mọi hố xí ở miền Bắc có cái thùng phân đầy dòi lúc nhúc. Hai đứa lớn kinh tởm, nhắm mắt nhắm mũi vội "ị" cho xong, chỉ có Tùng sợ té vào thùng phân, nhứt định nín không chịu vô cầu đầy ruồi nhặng thối tha. Mình đành buộc lòng để Tùng "ị" trên bờ gần ao sen và múc thùng nước giếng kế bên dội mạnh xuống ao. Sau ba ngày trên tàu không tắm gội, ba đứa nhỏ mình mẩy nhớp nhúa được mình kỳ cọ rửa ráy thơm tho, nên vừa lên giường xong là lăn kềnh ra ngủ ngon lành. Mình cũng vội vàng tắm gội sau đó vì ba ngày trời trong toa xe như địa ngục trần gian, mình cảm thấy bứt rứt ngứa ngáy khó chịu không thể tả.
Ðêm xuống dần, tiếng chim bìm bịp kêu thật buồn bã, hoà lẫn với tiếng côn trùng nỉ non làm mình cảm thấy não nuột cả lòng. Ðưa mắt nhìn vào trại hẻo lánh phía xa xa, mình thầm nghĩ giờ nầy chắc anh Trường đã được báo có vợ con ra thăm nuôi, chắc anh cũng trằn trọc không ngủ được như mình. Mình kéo cao cổ áo len, định đi ngủ, chợt thấy cánh cửa chưa được gắn nên phòng cứ mở toạc ra, gió lạnh ngang nhiên lùa vào, mình vội bàn với hai chị bạn cùng nhau kéo cánh cửa nặng trĩu chận đỡ ngang qua cho chắn bớt gió lại và cũng để phòng ngừa cán bộ liều lĩnh đột nhập vào như đã có tiếng đồn ở các trại kế bên.

Trời vừa hừng đông, mình còn chập chờn mệt mỏi trong giấc ngủ đầy mộng mị thì bị đánh thức nhỏm phắt dậy vì tiếng tru tréo lanh lảnh chát chúa của một nữ cán bộ bên tai : "Thế lầy là thế lào? Ai mà dám cả gan ỉa trên bờ ao như thế lầy? Ðể cho ông già Ðào phải đi hốt đồ dơ như thế?" (Ông Ðào là một tù nhân tự quản hình sự đã già). Mình điếng người chợt nhớ đêm qua trời tối nên mình sơ ý không thấy rõ để dội kỹ phẩn của Tùng xuống ao vì vậy mà còn rơi rớt vài "cục" trên bờ. Mình và các con rán nín cười khi nghe nữ cán bộ tiếp tục hét ỏm tỏi ngoài sân để chửi bóng chửi gió.

Nghe tiếng chân nhiều người dừng lại trước nhà tiếp tân, mình và hai chị bạn vội kéo lê cánh cửa gỗ qua một bên. Hên phước làm sao, đúng ngày đội xây dựng đang tụ tập điểm danh trước khi rã hàng lao động trước nhà tiếp tân. Các bạn anh Trường nhìn mình xì xào nói nhỏ : "Anh Trường ở phía sau hàng đó chị, chị thấy ảnh chưa? Một lát nữa chị sẽ gặp ảnh". Mình hồi hộp khi thấy bóng anh Trường thấp thoáng phía sau. Mình an tâm thấy anh lành lặn mạnh dạn tiến vào phòng tiếp tân, nơi đó có cán bộ chễm chệ lạnh lùng ngồi sẵn ở đầu bàn. Bốn mẹ con lính quýnh ngồi phệch xuống ghế đối diện. Vợ chồng mình nghẹn ngào nói không ra lời, mắt nhìn mắt, cái nhìn thật sâu đậm thiết tha, nói lên sự chờ mong khắc khoải từ bao nhiêu năm dài. Ba con vội bíu lấy Ba hôn thật thắm thía. Anh cảm động xoa đầu ba đứa nhỏ, nghẹn lời. Anh chép miệng nhìn mình : "Sao Em ốm quá vậy? Em có sao không?" Mình ràn rụa nước mắt, chỉ biết siết bàn tay chai cứng vì lao động của anh.

Tùng nhõng nhẽo quen vòi vĩnh nên sáng sớm hôm đó chưa ăn sáng, bụng đói cồn cào, được dịp mè nheo với Ba như ở nhà : "Ba ơi! Con đói bụng quá!" Nhưng cán bộ dửng dưng, nhứt nhứt theo luật định không cho thân nhân ăn uống với trại viên, làm Tùng tiu nghỉu, phụng phịu oà lên khóc. Thủy Tiên, Sơn cũng oà lên khóc theo em như đưa đám ma, làm vợ chồng mình càng cảm thấy uất nghẹn. Anh Trường chỉ kịp hỏi thăm về sức khỏe, học hành của các con, còn mình thì lật đật hỏi anh về đời sống lao động ở trại, những câu hỏi thật nhạt nheo và rổng tuếch.

Sau đó thì cán bộ lạnh lùng dõng dạc tuyên bố : "Ðã nửa giờ qua rồi, cuộc thăm viếng đến đây chấm dứt! Nếu anh học tập lao động tốt thì sẽ được thăm viếng lâu hơn, có khi được cả ngày". Cả gia đình miễn cưỡng nói những lời tạm biệt, tha thiết dặn dò nhau giữ gìn sức khỏe và luyến tiếc bịn rịn chia tay, sau khi mình phụ chất các thùng ăm ắp đồ ăn lên xe "cải tiến" (xe cút kít có tay kéo như xe kéo trong Nam). Mình thẫn thờ nhìn anh còng lưng đẩy xe nặng trĩu các bao bị đồ ăn đầy bụi đường và mồ hôi nước mắt của vợ con. Bóng anh khuất dần... tiếng kẽo kẹt của bánh xe hòa lẫn với tiếng khóc thút thít hờn dỗi của Tùng cứ xoáy mạnh vào đầu mình nhức nhối. Mình ôm đầu lảo đảo ngồi phệch xuống thềm đá. Thủy Tiên, Sơn vội rầy Tùng : "Nín đi, Tùng đừng khóc nữa, đừng làm má buồn nữa!" Mình ôm choàng lấy ba con, nghẹn ngào nhìn Tùng tha thứ.

Chợt nhớ cả bốn mẹ con bụng đói meo, chưa ăn sáng, mình chạy vội ra sau bếp, hì hục nhóm lửa nấu nồi nước sôi, bỏ vào chút đỉnh bún Tàu còn sót lại trong bao hành lý, và nêm thêm chút muối tiêu bột ngọt. Bốn mẹ con đói quá, ăn ngấu nghiến ngon lành tô miến "thất nghiệp" nhớ đời đó. (Tiếc công lặn lội cả mấy ngàn cây số, nên mình dồn gởi tất cả cho anh Trường, chỉ để lại cho bốn mẹ con chút đỉnh bún Tàu và vài bịch mì gói ăn đỡ dạ thôi). Ăn xong, bốn mẹ con tom góp đầy đủ hành lý để kịp theo xe trâu trở lại đường cái đón xe đò trở về Thanh Hóa. Lúc đó anh Trường đã trở ra để kịp tiễn đưa vợ con về. Giây phút biệt ly thật não nùng. Cả nhà bịn rịn, lưu luyến không muốn xa rời. Các anh bạn đang lao động chung quanh cũng ứa nước mắt ái ngại nhìn mình cùng ba con mọn thất thểu leo lên xe trâu. Anh Trường mấp máy môi nói : "Em và các con về bình yên!" Mình lí nhí ngậm ngùi run giọng : "Anh ở lại rán được mau về".Mình vốn ghét ba chữ "lao động tốt", tránh không nhắc đến. Ba con vẫy tay luyến tiếc chào ba.

Mưa phùn lại lất phất rơi, cái lạnh xé da cắt thịt : đúng là rét tháng Ba ở miền Bắc!! Cái lạnh lẽo ngoài trời không ghê gớm da diết đeo đẳng bằng cái lạnh cô đơn trong tâm hồn. Ngồi co gối trầm ngâm trên xe trâu, mình thẫn thờ như người mất hồn. Ðồ ăn, hành lý đã được chuyển đầy đủ vào trại, bận về thật nhẹ gánh, nhưng sao lòng cứ canh cánh nặng trĩu ưu tư. "Chàng ở đầu sông Tương, Thiếp ở cuối sông Tương!" Mình bất giác rùng mình nhớ lại khi xưa có người quở trách bảo tại sao đám cưới hai đứa lại làm vào tháng bảy mưa ngâu, dễ bị chia lìa ngăn cách như Ngưu Lang Chức Nữ.

Ðường về xa dịu vợi, xe trâu lắc lư trên đường mòn gập ghềnh thả bốn mẹ con mệt nhoài xuống đường cái để lấy chuyến xe đò chót về Thanh Hóa. Tới đây mới vỡ lẽ : không thể nào mua vé tàu về Nam được, mà phải trở lộn ra Hà Nội mới hy vọng có vé về Sài Gòn. Mình thất sắc ngao ngán lo âu nhìn các con nhỏ dại lại phải cực nhọc một phen lặn lội nữa ra tận Hà Nội. Vé đi Hà Nội hiếm như vàng, muốn mua vé chợ đen cũng không có. Mình thất vọng bối rối, hoang mang không biết tính sao thì thời may có người mách bảo cứ năn nỉ ở quày vé nói có con mọn bịnh cần mua gấp vé về Hà Nội thì họa may mua được vé. May mắn thay thấy mình chạy thất thểu với ba con mọn đùm đề lôi thôi lếch thếch, người bán vé thương tình "nhín" được bốn vé cho bốn mẹ con. Như bắt được vàng, mình hăm hở kéo các con lên toa dành cho các người có con mọn liều lĩnh đi Hà Nội vì không còn cách nào khác.

Tới Hà Nội, mình mừng rỡ gặp lại hai chị Cao và chị Lang cũng đang chờ mua vé về Sài Gòn.Ba chị em hỏi thăm nhau tíu tít và chen lấn rách cả áo, tóc tai bù xù mới mua được vé về Sài Gòn tối hôm đó. Không biết làm gì cho qua thì giờ vì sân ga chật hẹp tràn đầy người, sợ lưu manh cướp giựt móc túi nên mình dẫn các con đi một vòng hồ Hoàn Kiếm và lấy xe điện "leng keng" xuống chợ Ðồng Xuân mua vài món lặt vặt, đem theo đi đường. Khí hậu Hà Nội lạnh hơn Thanh Hóa nhiều nên Thủy Tiên, con gái yếu đuối hơn, than lạnh và vì đi bộ nhiều nên cũng than mỏi chân. Mình vội kêu một xích lô đạp chở bốn mẹ con về ga trở lại sau khi sắp hàng dẫn các con vào ăn phở ở một tiệm nổi danh phố Nam Ngư cho ấm bụng và lấy sức lại vì ban sáng chỉ ăn một tô miến lõng bõng nước và muối tiêu.

Tối hôm đó bốn mẹ và hai chị bạn mừng rỡ nhảy lên toa tàu Thống Nhứt trực chỉ về Sài Gòn. Hành lý thì gọn ghẽ nhẹ nhàng, nhưng mỗi người mang nặng một tâm tư. Lần nầy thì các con đã quen cảnh hỗn độn và dơ dáy trên tàu nên ba đứa biết thân phận, mỗi đứa tìm một góc kẹt dưới băng, chui rúc vào như đàn chó con, co ro khoanh tròn mình lại ngủ.

Một hồi còi tàu rú dài trong đêm tối... Tàu chuyển bánh nặng nề, chậm chạp và uể oải, uể oải như tâm hồn mình, trống rỗng và chán chường.. Tiếng còi tàu lại rít lên trong bóng tối dày đặc. Mình mệt mỏi nhắm nghiền mắt lại chập chờn thoáng thấy xa xa bóng anh Trường âm thầm mất hút vào trại, đâu đây như còn văng vẳng tiếng ba con thơ dại ú ớ trong mơ : "Ba ơi! Ba ơi!" Mình thiếp dần, thiếp dần... Chân tay rã rời. Con tàu vẫn lạnh lùng tiến trong màn đêm âm u như một bóng ma...

Thu Thủy

**************************************************************************************

1-3- Người thuyền chài và ông thần

(tiếp theo kỳ trước)

Trích đoạn cuối kỳ trước số 16 tháng Janvier 2009):

(Ẩ) Vua cho gọi ông thầy thuốc Đu-Ban vào chầu. Ông thầy qùy trước ngai vàng, khấu đầu bái lễ. Nhà Vua miễn lễ cho ông, cho ngồi ở một cái ghế cạnh ngai vàng, và ngợi khen trước mặt tất cả triều đình, và cũng ngày hôm đó cho ông thầy Đu Ban được ngồi ăn cơm cùng bàn với Nhà Vua, thật là một đại vinh dự mà Vua chưa ban cho một người nào.

Buổi chiều hôm đó, khi sắp tan chầu, vua ban cho ông thầy một cái áo triều phục dài tuyệt đẹp và đắt tiền giống như áo các cận thần mặc, và Vua sai quân mang lại cho ông thày thuốc hai ngàn đồng vàng. Những ngày nối tiếp Nhà Vua không ngớt ban thưởng cho ông thầy thuốc vì Vua nghĩ rằng không thể biết được đến mức nào mới trả hết ơn cho ông thầy được.( còn tiếp).

*******

Các quan trong triều ai cũng vui mừng thấy vua khỏi bệnh, hoan hô ông thầy thuốc giỏi, xứng đáng được vua trọng vọng, xứng đáng được vua ban thưởng.

Trái lại, ông Tể tướng thì không vui.

Ông Tể tướng có tính keo kiệt, tham lam và hay ghen ghét, thấy ai hơn mình thì không chịu được; thấy ông thầy thuốc được Nhà Vua sủng ái ban thưởng nhiều nên ông nghĩ cách làm hại. Ông trình với Vua rằng có tin mật báo cho biết là tên thầy thuốc này từ nơi xa xăm đến cố tìm cách được gần Nhà Vua để giết Vua.

Vua nói: Ta không tin là thầy thuốc này lại có ý định hại ta

- Hạ thần cúi đầu xin Bệ Hạ suy nghĩ lại. Đây là tin mật đích xác

- Ta tin rằng người thầy thuốc này là một người có đức hạnh, một người tốt hơn mọi người, ta mến ông ta lắm. Nếu ông ta định ám hại ta thì sao chữa cho ta khỏi bệnh, cứ để mặc căn bệnh hoành hành thì chẳng bao lâu ta cũng chết. Tể tướng đừng làm ta nghi ngờ oan một người tốt. Ta không nghe lời xàm tấu của tể tướng, trái lại ta quyết định từ nay mỗi tháng ban cho thày thuốc một ngàn đồng vàng. Ta nghĩ như thế cũng là chưa đủ. Dù ta có chia nửa tài sản, chia nửa đất nước cho ông ta thì ta cũng chưa trả hết ơn. Vì vậy ta không tin lời xàm tấu của nhà ngươi để nghi oan ông thầy thuốc. Nhà ngươi ghen ghét ông thầy thuốc muốn ta quyết định trừng phạt oan uổng ông ta, thôi ngươi đi đi, ta không nghe lời tâu của nhà ngươi.

- Muôn tâu Bệ Hạ. Hạ thần chẳng có lý do gì để ghen ghét ông thầy thuốc mà chỉ vì lòng dạ quyết tâm bảo vệ ngai vàng, bảo vệ thánh thượng, hạ thần nghĩ dù có trừng trị lầm oan một người ngay còn hơn là để một đứa gian thoát tội. Nhưng đây không phải là một sự nhầm lẫn mà đích thực tên thầy thuốc Đu Ban có dã tâm, có ý định đến đây để lấy tính mạng của Nhà Vua. Chẳng phải hạ thần ghen ghét với thầy thuốc Đu ban mà chỉ vì muốn bảo vệ tính mạng của Hoàng thượng mà hạ thần coi là quan trọng hơn hết, nên hạ thần trình tấu là tên thầy thuốc Đu ban đến đây để ám sát Bệ Hạ. Hạ thần cam kết nếu nói sai thì sẽ bị trừng phạt nặng nề.

Nếu Bệ Hạ tin tên thầy thuốc này quá thì có ngày sẽ hối hận. Hạ thần được tin đích xác rằng những kẻ muốn ám hại Bệ Hạ đã gửi nó tới đây để thi hành lệnh ám sát Bệ Hạ. Hắn đã chữa cho Bệ Hạ khỏi bịnh, bịnh có khỏi hết không khỏi hết hay chỉ khỏi ở bề ngoài, còn căn nguyên vẫn chưa chữa trị được, một ngày nào lại tái phát. Và biết đâu đấy những thuốc này chẳng có một hậu quả tai hại cho sức khoẻ của Bệ Hạ.

Ông Vua nghe thấy vậy cho là tể tướng có lý, vì ông vua này tinh thần không được sáng suốt, tính tình ba phải, không đủ tinh tường để phân biệt được lòng dạ của viên tể tướng, cũng không đủ ý chí cương quyết giữ vững lập trường của mình cho rằng ông thầy thuốc là người tốt.

Vua nói rằng : Ta nghe Tể tướng nói cũng có lý. Có khi tên thầy thuốc nó cho ta ngửi một thứ thuốc nào của nó là ta bị chết. Tể tướng phải suy tính trước, nếu xảy ra trường hợp đó thì phải làm thế nào ?

Tên tể tướng ác độc này, thấy Nhà Vua đã siêu lòng nghĩ theo chiều hướng mà hắn muốn, hắn nói ;

- Tâu Bệ Hạ, chỉ có một cách đề phòng để giữ được mạng sống của Bệ Hạ một cách an toàn trước khi âm mưu xảy ra. Cúi xin Bệ hạ truyền lệnh cho tên thầy thuốc đó phải vào cung ngay, khi nó tới thì Bệ Hạ ra lệnh chém đầu nó, thế là chắc chắn khỏi phải lo sợ thắc mắc.

- Tể tướng nói đúng. Phải làm như thế thì mới chấm dứt được âm mưu của nó muốn ám hại ta.

Rồi Nhà Vua ra lệnh cho một quan hầu tức tốc bắt ông thầy thuốc phải vào trong cung điện chầu ngay tức khắc. Thầy thuốc tới quỳ trước mặt Nhà Vua, vua hỏi :

- Nhà ngươi có biết tại sao ta lại ra lệnh bắt mi vào trình không ?

- Hạ thần ngu tối không sao hiểu được thánh ý, xin Bệ Hạ ban lời giải thích cho hạ thần được biết.

- Ta gọi nhà ngươi tới đây để chém đầu nhà ngươi, để đề phòng nhà ngươi ám hại ta.

Không thể nào tả nỗi kinh hoàng của ông thầy thuốc trước lệnh đột ngột bất ngờ của Nhà Vua, ông thầy thuốc hỏi :

- Tâu Bệ Hạ hạ thần nghĩ không làm nên tội tình gì, không làm chuyện gì trái phép, để đến nỗi Bệ Hạ phải nổi giận ra lệnh chém đầu hạ thần.

- Ta được tin chắc chắn rằng nhà ngươi là một tên gián điệp, được cử đến đây để âm mưu làm hại đến tính mạng của ta. Để tránh việc đó xảy ra, để đỡ phải lo ngại, ta ra lệnh chém đầu nhà ngươi trước.

Nghe thấy thế, ông thầy thuốc kinh hoảng lo sợ, tay chân rụng rời, biết đã bị những kẻ ghen ghét xàm tấu khi thấy mình được nhà vua sủng ái, ban thưởng cho nhiều tiền bạc và đồ quý giá. Ông hối hận đã chữa trị cho Nhà Vua hết bệnh cùi hủi, ông nói :

- Hạ thần tâu xin Nhà Vua cho biết có phải Nhà Vua trả ơn hạ thần cứu tử bằng cách đó không ?

Nhà Vua không trả lời mà ra lệnh cho tên đao phủ sửa soạn chém đầu ông thầy thuốc. Ông thầy thấy vậy liền năn nỉ :

- Cúi xin Bệ Hạ tha tội chết cho hạ thần. Thượng Đế sẽ cho Bệ Hạ được sống lâu mãi mãi.

Vua nói :

- Đây là một điều cần thiết để tránh việc nhà ngươi lấy mạng sống của ta một cách khéo léo như nhà ngươi đã khéo léo chữa khỏi bệnh cho ta.

Ông thầy khóc lóc, hối hận đã làm điều tốt lành là chữa khởi bệnh cho ông vua để bây giờ được đền ơn một cách không xứng đáng. Trong khi người đao phủ sửa soạn bịt mắt và trói tay ông thầy, và sửa soạn đao gươm để chém cổ, những ông quan có mặt trong triều đều quỳ xuống, xin Vua tha mạng cho ông thầy thuốc, họ bảo đảm liên đới chịu trách nhiệm nếu có việc gì xảy ra, nhưng Nhà Vua cả quyết không tha.

Ông thầy thuốc bị bịt mắt, trói tay , bắt quỳ xuống chờ lưỡi gươm kết thúc đời mình, ông năn nỉ lần chót :

- Tâu Bệ Hạ, nếu Bệ Hạ không tha tội cho hạ thần, thì cũng xin Bệ Hạ lượng tình cho phép hạ thần về nhà để thu xếp công việc nhà, tìm nơi chôn cất và từ biệt gia đình cha mẹ, vợ con, anh em, phát tiền cho kẻ nghèo, và nhất là tìm người để giao tủ sách hiếm có của hạ thần, giao cho những bạn bè có khả năng sử dụng những sách thuốc quý chữa bệnh cho đời. Hạ thần có một cuốn sách rất quý muốn dâng Bệ hạ ngự lãm, cuốn sách hiếm có, độc nhất vô nhị này ở trên thế gian, giải quyết mọi vấn đề, thật là một quốc bảo xứng đáng được lưu trữ trong quốc khố.

- Cuốn sách đó có gì đáng quý giá, Nhà vua hỏi.

- Cuốn sách đó có nhiều điều lạ, Điều lạ nhất là khi sau khi hạ thần bị chém cổ, nếu Bệ Hạ giở sách tói trang thứ 6, đọc dòng thứ ba phía trái, thì cái đầu của hạ thần sẽ trả lời những câu hỏi của Bệ Hạ.

Nhà Vua lấy làm lạ, ham muốn chứng kiến một chuyện lạ lùng trên trần gian, ra lệnh hoãn cuộc hành hình đến ngày mai, và cho quân lính dẫn ông thầy thuốc về nhà thu xếp công việc một ngày, hôm sau lại dẫn trở lại.

Tiếng đồn vang trong triều và ngoài thành phố rằng hôm sau có một sự việc đặc biệt lạ lùng xảy ra sau khi tội nhân bị chém cổ, nên sáng hôm sau tất cả các ông quan lớn nhỏ, các sĩ quan các cấp đều vào trong triều để chứng kiến sự việc lạ đời đó. Dân chúng kéo đến trước cung điện để nghe ngóng. Người ta thấy ông thầy thuốc ôm một quyển sách dày, to lớn, đến trước mặt nhà Vua. Ông yêu cầu viên sĩ quan hầu cận mang lại một cái chậu lớn, ông lấy cái vải bọc quyển sách, trải trên cái chậu đó. Ông quỳ xuống dâng quyển sách quý và nói rằng :

- Cúi xin Bệ Hạ hãy cầm lấy cuốn sách này, khi đầu thần bị chém rồi, xin Bệ Hạ ra lệnh mang đặt đầu hạ thần trên tấm vải trên cái chậu. Khi cái đầu được đặt trên miếng vải đó, thì máu sẽ hết chảy, lúc bấy giờ Bệ Hạ đặt câu hỏi, cài đầu hạ thần sẽ trả lời những câu hỏi của Bệ Hạ. Nhưng hạ thần cũng cúi đầu tâu xin lần chót, cúi xin Bệ Hạ hãy rủ lòng khoan hồng tha tội chết cho hạ thần, vì hạ thần thật oan uổng, không có tội tình gì ?

- Thôi nhà người đừng cầu khẩn xin tha vô ích nũa, số phận ngươi đã được an bài, dù chỉ với lý do là để xem cái đầu ngươi lìa khỏi thân xác mà còn trả lời được những câu hỏi.

Thế rồi Nhà Vua cầm cuốn sách lớn mà ông thầy thuốc đưa cho, Nhà Vua ra lệnh cho đao phủ thi hành lệnh chém cổ ông thầy thuốc. Lưỡi gươm của đao phủ chém ngọt khéo léo, cái đầu rớt xuống đất, máu tuôn ra . Đao phủ đặt cái thủ cấp lên tấm vải bọc cuốn sách, để ỡ trên cái chậu, máu trong đầu không chảy ra nữa. Tất cả mọi người có mặt đều ngạc nhiên ồ to khi thấy cái đầu mở to hai mắt, mồm lên tiếng nói :

- Cúi xin Bệ Hạ hãy giở cuốn sách ra.

Ông Vua mở sách, giở từng trang giấy, nhưng những trang giấy dính tờ nọ với tờ kia nên phải giở một cách khó khăn. Ông Vua đưa ngón tay lên lưỡi chấm nước bọt để có thể mở được trang giấy. Cứ mỗi trang, ông vua đều đưa ngón tay vào lưỡi để chấm nước bọt. Đến trang thứ sáu không thấy có chữ gì, ông hỏi cái đầu của ông thầy thuốc :

- Sao tới trang thứ sáu rồi mà không thấy có chữ viết gì ?

- Xin Bệ Hạ kiên nhẫn giở thêm mấy trang nữa.

Ông Vua tiếp tục giở, đến khì thuốc độc tẩm trên các trang giấy, qua ngón tay dính thuốc ngấm vào lưỡi, chuyền vào cơ thể, tự nhiên vua thấy trong người biến chuyển, đầu óc xây xẩm, mắt hoa mờ không nhìn rõ chung quanh, ông ngã xuống dưới ngai vàng, lăn lộn dưới đất.

Lúc bấy giờ, thấy thuốc độc đã ngấm vào người ông Vua, cái đầu của ông thầy thuốc Đu-ban lớn tiếng :

- Những hôn quân lợi dụng quyền thế của mình để giết hại những người vô tội đều bị Thượng Đế trừng phạt chẳng sớm thì muộn.

Ông Vua thở hơi cuối cùng. Cái đầu ông thầy thuốc cũng lăn ra, hết linh động.

*******

Trở lại truyện ông thuyền chài và ông thần.

Thuyền chài kể xong chuyện ông thầy thuốc Đu Ban bị vua Hi lạp vô ơn giết chết cho ông thần nghe, rồi nói với ông thần vẫn còn bị nhốt trong cái bình rằng :

- Nếu vua Hi Lạp để cho người thầy thuốc sống thì Thượng đế cũng đã để ông vua sống, nhưng ông đã từ chối lời cầu khẩn thiết tha của ông thầy thuốc, nên Thượng đế đã trừng phạt ông, bắt ông chết. Ác thần cũng tương tự như ông vua Hi Lạp vậy. Nếu ác thần đã thương hại ta không bắt ta phải chết sau những lời cầu khẩn của ta, nhưng ác thần muốn ta chết thì bây giờ ta cũng phải độc ác, không một chút nhân từ đối với ác thần. Ta ném cái binh này xuống đáy biển để ác thần sống đến ngày tận thế, đó là sự trả thù của ta đối với ác thần.

Ông thần đáp :

- Ông bạn thuyền chài của ta ơi, một lần nữa ta cầu khẩn bạn đừng làm một cử chỉ ác độc như vậy. Bạn hãy nghĩ rằng trả thù là một việc không nên làm, mà phải lấy điều thiện để đối xử với điều ác. Hãy trông gương Imma ngày xưa đối xử với Ateca.

- Imma đối xử thế nào với Ateca ? ông thuyền chài hỏi

- Hảy mở nắp bình cho ta ra rồi ta sẽ kể cho nghe, chứ còn ở trong cáí bình tối tăm này thì ta chẳng có lòng dạ nào để kể chuyện, cứ mở cho ta ra rồi muốn ta kể chuyện gì ta cũng kể cho nghe.

- Không, ta không mở đâu. Ta sẽ ném cái bình này xuống biển.

- Đừng, đừng làm thế, ông thần la lên. Ta hứa là ta không làm một điều gì hại đến mi, trái lại ta sẽ chỉ cách cho mi trở nên thật giàu có.

Thuyền chài sống trong nghèo khổ cùng cực đã lâu nghe thấy thần hứa giúp cho thành giàu có, nên siêu lòng ham muốn, ông nói :

- Nếu thần thề với Thượng Đế sẽ làm những gì thần hứa giúp ta ra khỏi cơn nghèo cực, thì ta sẽ mở nắp bình ra. Ta không tin rằng thần dám thất lời thề với Thượng đế.

Sau khi nghe ông thần long trọng thề với Thượng đế là sẽ giúp đỡ tên thuyền chài nghèo khổ này trở thành giàu có.

Thuyền chài không còn nghi ngờ, nên mở nắp bình ra.

Một luồng khói từ trong bình thoát ra lan rộng dần dần khắp nơi rồi thu nhỏ lại trở biến thành ông thần cao, to lớn. Ông thần đá cái bình bắn ra giữa biển. Thuyền chài lo sợ ông thần nuốt lời hứa, thuyền chài hỏi :

- Thần đá cái bình xuống biển là có ý gì ? Tôi chẳng nghĩ rằng thần dám nuốt lời thề với Thuợng đế. Tôi xin nhắc với thần lời nói của thầy thuớc Đu ban nói với vua Hy Lạp rằng : "Nếu Nhà Vua tha mạng cho tôi sống thì Thượng Đế sẽ kéo dài đời sống của Nhà Vua. Nếu Bệ Hạ cắt ngắn đời sống của hạ thần thì Thượng Đế cũng sẽ cắt ngắn đời sống của Bệ Hạ".

Sự lo ngại của ông thuyền chài làm ông thần bật cười :

- Ta đá cái binh xuống biển là để đá chơi mà thôi, xem mi có sợ không. Bây giờ mi cứ yên tâm, ta giữ lời hứa, và ta sẽ làm cho mi trở nên giàu có. Mi ôm chài lưới của mi đi theo ta.

Ông thuyền chài thu gọn lưới của ông, ôm vào lòng, rồi bước đi theo ông thần nhưng trong bụng vẫn chưa thấy an tâm. Ông thần đi ra khỏi thành phố, qua một ngọn núi, tới một cái hồ lớn, chung quanh hồ có bốn ngọn đồi bao quanh.

Ông thần nói : Bây giờ mi quăng lưới xuống mà bắt cá.

Thuyền chài nhìn xuống hồ thấy lúc nhùc những cá, nhưng có diều lạ là mỗi con cá đều có một màu khác nhau, xanh, đỏ, trắng, vàng. Thuyền chài quăng lưới xuống nghĩ rằng sẽ bắt được rất nhiều cá nhưng lạ thay, lúc kéo lưới lên thì chỉ có 4 con vào lưới, mỗi con một màu. Thuyền chài chưa bao giờ nhìn thấy những con cá lạ lùng ấy, ngắm nghía không biết chán mắt, nghĩ đem bán sẽ được nhiều tiền lắm

Ông thần nói :

Mi mang những con cá vào bán cho Nhà Vua, mi sẽ kiếm được một món tiền mà suốt đời mi chưa bao giờ kiếm được nhiều như thế. Mỗi ngày mi có thể đến đây quăng lưới một lần, chỉ một lần thôi, nếu mi quăng lưới hai lần thì mi sẽ bị trừng phạt, thôi mi đi đi, mi nhớ nghe lời ta dặn.

Nói rồi, ông thần giẫm chân mạnh xuống đất chỗ ông ta đừng, bỗng nhiên mặt đất nứt ra một hố sâu rộng, ông thần bước vào hố đó, đất lại khép kín lại như củ không có dấu vết gì.
Ông thuyền chài nghe theo lời của ông thần không quăng lưới xuống lần thứ hai. Ông ta đi về thành phố, tới cung diện nhà vua, để bán cá.

Ông vua ngắm nghía những con cá lạ không chán mắt, rồi ông ra lệnh cho ông bộ trưởng hầu cận mang cho bà đầu bếp nổi tiếng mà Hoàng đế xứ Hi Lạp gửi tới tặng ông, để nấu nướng trong cung điện, ông nghĩ rằng những con cá này đẹp thế thì chắc ăn phải ngon lắm. Người hầu cận mang cá vào bếp rồi về trình Vua. Vua ra lệnh thưởng cho người thuyền chài l00 đồng vàng, thuyền chài chưa bao giờ được có tới một phần nhỏ số tiền đó, ngỡ là đang sống trong giấc mơ.

Người đầu bếp của Nhà Vua sau khi sửa soạn cá, rửa sạch rồi đặt cá lên chảo nóng để chiên. Khi thấy cá đã chín, đầu bếp lật cá lên để chiên phiá dưới. Vừa lúc ấy thì bức tường nhà bếp bỗng nứt ra, mở rộng, một bà tiên ở phía ngoài bước vào trong căn nhà bếp. Cô tiên còn trẻ tuổi, đẹp tuyệt trần, mặc một cái áo sa- teng hoa kiểu xứ Ai cập, đeo đôi bông tai, một cái vòng cổ xâu những hột ngọc lớn, những vòng vàng nhận hồng ngọc, tay bà cầm một cái gậy phép nhỏ làm bằng gỗ cây "myrte". Bà tiên gõ cái gậy vào một con cá chiên trong chảo và nói :

- Cá ơi ! cá ơi ! cá có làm bổn phận không ?

Con cá không trả lời. Bà tiên lại nhắc lại :

- Cá ơi ! cá ơi ! cá có làm bổn phận không ?

Bấy giờ cả bốn con cá đều ngỏng đầu lên đồng thanh trả lời rõ ràng :

- Có ! có ! Nếu bà đếm thì chúng tôi cũng đếm, nếu bà trả nợ của bà thì chúng tôi trả nợ của chúng tôi, nếu bà bỏ chạy, thì chúng tôi thắng, chúng tôi thích lắm.

Bà tiên nghe thấy thế cầm cái chảo đổ 4 con cá vào lò than hồng, rồi bà bước ra ngoài khe hở của tường bếp, bức tường liền khép kín lại không để lại dấu vết gì cả. Những con cá bị lửa đốt cháy đen , không thể nào dọn cho Nhà Vua ăn được,bà đầu bếp sợ quá khóc nức nở, bà nghĩ rằng bà có kể đúng những sự việc xảy ra thì Nhà Vua không tin bà mà còn trừng phạt bà nữa.

Trong lúc bà đang than khóc thì ông bộ trưởng vào hỏi bà cá đã xong chưa để mang lên cho Vua ăn. Bà liền kể những sự việc đúng như đã xảy ra, ông bộ trưởng ngạc nhiên hết sức, nhưng rồi ông không kể lại cho vua nghe mà tìm một cái cớ khác để nói dối. Rôi ông cho người tức tốc kêu người thuyền chài tới. Ông nói : Ông chài ơi Ông mang lại cho 4 con cá khác, vì những con cá kia không thể mang cho nhà Vua ăn được.

Thuyền chài nghĩ tới điều ông thần cấm, nhưng không nói ra, điều cấm là không được bắt cá hai lần trong một ngày, nên trả lời rằng đường xa quá, xin cho ngày mai sẽ mang cá tới.
Ngay tối hôm đó, ông chài tức tốc đi đến cái hồ cá , thả lưới và bắt được 4 con cá giống y như những con cá bắt được hôm qua.

Hôm sau ông mang cá vào cung điện nhà Vua..

Ông bộ trưởng hầu cận nhà Vua mang cá thằng vào bếp đưa cho bà đầu bếp, rồi đứng ở trong bếp chờ. Bà đầu bếp sửa soạn cá, rửa sạch rồi cho cá vào chảo chiên. Cũng giống như ngày hôm trưuớc khi lật cá lên để chiên mặt dưới thì bà tiên cũng hiện ra nói những câu như hôm truớc, và những con cá cũng trả lời như hôm trước. Rồi bà tiên cũng ra khỏi căn bếp qua cái tường.

Ông bộ trưởng chứng kiến từ đầu nói rằng : Việc này là một việc độc đáo huyền hoặc, không thể dấu vua được, ông ta liền trình nhà Vua đầu đuôi câu chuyện mà ông chứng kiến.

Nhà Vua cho là một sự kỳ lạ, nên muốn chứng kiến tận mắt; Vua cho đòi người thuyền chài lại và ra lệnh cho thuyền chài phải mang lại 4 con cá khác. Thuyền chài xin với Vua cho hạn ba ngày sẽ mang cá lại.

Ông trở lại cái hồ trong núi và ông cũng may mắn như hai kỳ trước. Nhấc lưới lên là ông bắt được 4 con cá 4 màu khác nhau.

Ông mang về trình cho Vua, vua vừa ý thưởng cho ông 400 đồng vàng.

Nhà Vua gọi bà đầu bếp mang tất cả đồ nghề lên văn phòng nơi vua ngồi làm việc, rối chiên cá cho vua và ông thủ tướng xem. Khi bà đầu hếp lất cá lên để chiên nửa sau của cá, thì tường văn phòng nứtra, lần này không phải là bà tiên mà một người da đen, mặc quần áo nô lệ. Người da đen cũng cầm cây gậy đụng vào đầu một con cá và hỏi một cách dận dữ :

- Cá ơi ! cá ơi ! cá có làm bổn phận của cá không ?

Cả bốn con cá đều ngỏng đầu lên đồng thanh trả lời :

- Có ! có ! chúng tôi có làm. Nếu ông đếm thì chúng tôi cũng đếm, nếu ông trả nợ thì chúng tôi trả nợ, nếu ông bỏ trốn, chúng tôi thắng, thì chúng tôi thích lắm.

4 con cá vừa nói xong thì người da đen đổ chảo cá xuống đất, những con cá cháy thành than. Làm xong việc đó người da đen hãnh diện bước ra khỏi văn phòng, bức tường lại khép kín như cũ không vết tích gì.

Sau khi chứng kiến việc lạ lùng đó, ôngVua nói với ông tể tưóng :

- Sau khi chứng kiến việc này, ta không khỏi không suy nghĩ. Những con cá này phải có ý nghĩa gì quan trọng lắm cần phải điều tra cho rõ sự thực.

Nhà Vua cho đi tìm người thuyền chài lại, hỏi rằng :

- Những con cá làm cho ta thắc mắc suy nghĩ, nhà ngươi đã bắt những con cá đó ở đâu ?

- Tâu Thánh thượng, tiểu dân đánh lưới bắt những con cá đó tại môt cái hồ, co bốn ngọn đồi bao quanh, ở bên kia dãy núi mà ở đây có thể nhìn thấy.

- Nhà vua hỏi : Tể tướng có biết cái hồ đó không ?

- Tâu Bệ hạ, hạ thần không biết cái hồ đó. Từ 60 năm nay hạ thần vẫn thường đi săn bắn ở chung quanh thủ đô, ngay cả ở bên kia dãy núi, mà không bao giờ biết đến cái hồ đó cả.
Nhà vua hỏi ông thuyền chài là hồ đó khoảng cách từ đây là bao nhiêu xa, thuyền chài trả lời không quá ba giờ đường bộ.

Thấy quảng đường ngắn , mà tròi còn sớm, ông vua ra lệnh tất cả các quần thần lên ngựa theo ông tới cái hồ đó, do thuyền chài đi trước dẫn đường.

Khi vượt qua ngọn núi, ông vua và các quan đều ngạc nhiên thấy một cánh đồng rộng lớn bao la mà chưa ai biết đến bao giờ/

Rồi Vua và đoàn tuỳ tùng tới cái hồ, chung quanh có bốn ngọn đồi. Nước hồ trong vắt, mọi người đều nhìn thấy những con cá bốn màu đang bơi lội đúng như lời thuyền chài tả. Nhà Vua rất ngạc nhiên hỏi các quan tuỳ tùng sao cái hồ này, ở gần kinh đô như vậy mà các quan không ai biết. Tất cả đều trả lời không một ai nghe thấy nói đến bao giờ.

Nhà Vua nói : Nếu các ngươi đều đồng thanh nói là không ai biết đến cái hồ này, ta sẽ không trở về cung trước khi biết rõ nguyên do tại sao lại có cái hồ này ở đây và tại sao trong hồ chỉ có những con cá bốn màu như vậy.

Nhà Vua ra lệnh dựng trại ờ bên bờ hồ. Liền sau đó các lều vải lớn nhỏ được dựng lên và lá đế kỳ phấp phới bay trên ngọn lều lớn của nhà Vua ở.

Buổi tối Nhà Vua gọi tể tưóng đến, nói rằng :

- Trong lòng ta sôn sao không được bình tĩnh, với cái hồ này chuyển mang từ xứ nào tới, tên da đen xuất hiện trong văn phòng của ta, những con cá biết nói mà ta nghe thấy chúng nói, những thứ này kích thích trí tò mò của ta mà ta phải tìm tòi cho ra nếu không thì ta không còn bình tĩnh nữa. Ta sẽ thi hành một việc. Ta sẽ đi một mình ra khỏi cái trại này. Ta chỉ nói cho một minh tể tướng biết, tể tướng phải giữ kín không nói cho ai. Sáng mai nếu các quan tới chầu thì tể tướng ngăn lại không cho vào và nói ta bị bệnh không muốn tiếp ai. Những ngày sau nữa cũng vậy, cho đến khi ta trở về.

Ông tể tướng nói với Vua nhiều điều để ngăn cản ý định của vua, nhất là sự nguy hiểm nếu vua di một mình và dù có tìm thấy sự thật thì kết quả sự hiểu biết cũng chẳng đáng là bao. Nhưng nhà Vua cả quyết không nghe lời khuyên ngăn, ông thay đồ mặc một bộ đồ ngắn gọn để đi bộ và mang theo một thanh kiếm. Khi thấy trong trại đã yên tĩnh thì ông vua đi một mình ra khỏi trại.không ai hay biết.

Qua ngọn đồi có đồng cỏ rộng lớn, ông cừ đi, đi mãi tới khi mặt trời mọc ông nhỉn thấy xa xa có một ngôi nhà lớn, ông vui mừng có thể hỏi những người ở trong nhà đó để biết điều mà ông muốn biết

Khi tới gần thì ông thấy đây là một lâu đài lớn đẹp, mặt tiền cẩn đá hoa màu đen láng bóng như những tấm gương. Ông ngắm nhìn toà lâu đài

Tói nơi, cổng lâu đài có hai cánh, một cánh mở một cánh đóng. Ông gõ cửa nhè nhẹ, khôngthấy ai trả lời, ông gõ mạnh hơn. Chờ một lúc không thấy ai ra, ông nghĩ chắc ngôi nhà này bỏ hoang.

(kỳ sau còn tiếp theo)

Bản quyền : Tác giả Tô Vũ giữ bản quyền bản dịch truyện Một ngàn lẻ một đêm ( Les Mille et une nuits) đăng trong Chuyện cà kê từ số 16.. Muốn đăng lại phải có sư đồng ý viết trên giấy có chữ ký của Tô Vũ . All copy must have an written authorization of the author To Vu before editing.Email address của To Vu : npham@free.fr


**************************************************************
***********************************************************

MỤC 2 – THƠ


2-1 và 2-2 - BÀI THƠ CUẢ ROBERT HERRICK VÀ BÀI THƠ CUẢ RONSARD

(bài viết của Tô Vũ) (David Ly Lang Nhân dịch thơ)
***

"To the virgins to make much time", là một bài thơ nổi tiếng của Robert Herrick trong tập Hespérides. Bài này nói về triết ly sống , nhận thấy cuộc đởi ngắn ngủi, ông khuyên người ta hãy nắm lấy cái ngày hôm nay, dựa vào câu nói bất hủ "Carpe Diem " của thi sĩ Horace (thế kỷ - l trước TC), trong tập thơ ODES.

CARPE DIEM, nghĩa là hãy thụ hưởng ngay cái ngày hôm nay, hãy nắm lấy cái ngày hôm nay, bởi vì cuộc sống của con người trên trái đất ngắn ngủi, hãy thụ hưởng cuộc sống trong đạo ly kẻo ngày mai cuộc sống chẳng còn nữa. Câu nói của Horace là đề tài cho bài thơ của Herrick. Herrick nói vói các trinh nữ hãy kết hôn trong đạo lý do Thiên chúa giáo hướng dẫn, thi sĩ Robert Herrick cũng là một nhà tu hành truyền giáo dẫn dắt con chiên.
Ngay bốn câu đầu :

GATHER ye rosebuds while ye may,
Old time is still a-flying :
And this same flower that smiles to-day
To-morrow will be dying.


nhà thơ đã khuyên hái những bông hồng, nói một cách bóng gió, một cách ấn dụ (métaphore), hoa hồng là tượng trưng của tuổi trẻ, của trẻ trung, của tươi đẹp nhưng cũng tượng trưng cho cái phù du, phù du của kiếp hoa sớm nở tối tàn, giống như cái phù du của sắc đẹp của người phụ nữ, cái phù du của cuộc đời người ta.

***
Văn chương Việt Nam cũng dùng từ "hoa" để chỉ người phụ nữ, để chỉ sắc đẹp của người phụ nữ.
Nhạc sĩ Dương thiệu Tước so sánh đời một phụ nữ như một kiếp hoa,

(…)Thương cho đời hoa... khéo sao... sớm nở... tối... tàn
Mà giờ đây... muôn hoa thắm tươi... hương theo gió đưa
Trong muôn sắc . . . huy hoàng


(…)Nhưng bên luống hoa

Kìa ai ngồi thở than
Lo thay hồng nhan... giống hoa... sớm nở... tối... tàn

***

Cụ Nguyễn Du trong toàn tập Kim Vân Kiều cũng dùng từ "Hoa" để chỉ người đàn bà, để chỉ sắc đẹp của người đàn bà không phân biệt hoa hồng, hoa lê, hoa cúc v.v

Câu 159 - May thay giải cấu tương phùng
Gặp tuần đố lá thoả lòng tìm hoa
Bóng hồng nhác thầy nẻo xa
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai?

Câu 219 - Hoa trôi béo giạt đã đành
Biết duyên mình biết phận mình thế thôi?

Câu 820 -Xót nay chút phận thuyền quyên
Cành hoa đem bán cho phường lái buôn

Câu 835 - Dười trần mấy mặt làng chơi
Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa.


Và sau đây mời quy độc giả đọc bài thơ "To the virgins " của thi sĩ Anh cát lợi, Robert Herrick, do nhà thơ David Ly Lãng Nhân ở Alabama, Hoa Kỳ dịch sang tiếng việt

2-1 -TO THE VIRGINS, TO MAKE MUCH OF TIME

Thơ của Robert Herrick

GATHER ye rosebuds while ye may,
Old time is still a-flying :
And this same flower that smiles to-day
To-morrow will be dying.

The glorious lamp of heaven, the sun,
The higher he's a-getting,
The sooner will his race be run,
And nearer he's to setting.

That age is best which is the first,
When youth and blood are warmer ;
But being spent, the worse, and worst
Times still succeed the former.

Then be not coy, but use your time,
And while ye may go marry :
For having lost but once your prime
You may for ever tarry


2-1-1- CHO NGƯỜI TRINH NỮ, ĐỂ TẬN HƯỞNG THỜI GIAN (Lý Lãng Nhân dịch)

Hãy góp lấy nụ hồng khi còn kịp
Níu thời gian xưa đó lúc đang bay
Đóa hoa này đang hàm tiếu hôm nay
Ngày mai đến sẽ tàn phai hấp hối

Kìa Thái dương sáng như đèn Thượng giới
Vượt đỉnh cao, cao vút tận thiên thanh
Cuộc chạy đua càng mỗi lúc mỗi nhanh
Càng gần mức càng gần chiều sẩm tối

Tuổi đẹp nhất: tuổi xuân hồng tươi mới
Khi ngày xanh máu thắm ấm hương nồng
Thời gian trôi mòn mõi cuốn xuôi dòng
Còn đâu nữa tuổi xanh môi hồng thắm

Đừng bẽn lẽn, hãy biết dùng năm tháng
Mai mốt đây rồi em sẽ lấy chồng
Một lần thôi em đánh mất xuân hồng
Để tuổi ấy chẳng còn xanh mãi mãi


David Ly Lãng Nhân
Madison, AL, Feb 14, 2009

***
2-2 -Pierre de Ronsard (1524-1585) nhà thơ người Pháp thế kỷ 16 cũng viết những bài thơ tình lãng mạn. Bài nổi tiếng của ông là bài viết tặng cô gái tên là Cassandre, là một cô gài đài các dòng dõi quý tộc. Ông chỉ gặp nàng một lần thôi, nhưng ông viết tặng nàng 400 bài thơ, gom trong tập thơ mà ông gọi là "Le premier Livre des Odes" ( Tập Thơ Tình thứ nhất).

Giống như nhạc sĩ sáng tác thiên tài Beethoven, Ronsard cũng mắc bệnh điếc. Nhưng ông là người đa tình. Ông gặp một thôn nữ tên là Marie. Ông viết tập thơ tình thứ hai "Le Deuxième Livre des Odes", gồm những bài thơ tặng Marie, người thôn nữ dản dị mà ông gần gũi nhiều hơn.

Về sau, khi ông lớn tuổi, ông gặp Hélène một cô gái trẻ hơn ông 30 tuổi, dòng quý tộc, tính nết cao kỳ, ông tặng nàng những bài thơ làm theo khổ thơ sonnets, mà ông gom trong tập thơ tựa đề Sonnets pour Hélène .

Bài thơ "À Cassandre" cũng gọi tên là Mignonne, allons voir si la rose, là một bài thơ nổi tiếng của Ronsard.

Giống như bài thơ tiếng Anh , To the Virgins, to make much of time của Robert Herrick trên đây, Ronsard dùng Hoa Hồng làm ẩn dụ chỉ sắc đẹp của phụ nữ, và cũng khuyên nên hưởng ngay tuổi thiếu thời kẻo tuổi già mau kéo đến làm tàn phải sắc đẹp.

Cueillez, cueillez votre jeunesse
Comme à cette fleur, la vieillesse
Fera ternir votre beauté.


Nhà thơ David Ly Lãng Nhân, theo lời yêu cầu của Tô Vũ, đã gửi bản dịch sau đây, xin mời quy độc giả thưởng thức.

2-2-1-Mignonne, allons voir si la rose
(A Cassandre)

Pierre de Ronsard (1524-1585)



Mignonne, allons voir si la rose
Qui ce matin avait déclose
Sa robe de pourpre au soleil,
À point perdu cette vêprée,
Les plis de sa robe pourprée,
Et son teint au vôtre pareil.

Las! Voyez come en peu d’espace,
Mignonne, elle a dessus la place,
Las, las! Ses beautés laissé choir !
Ô wraiment marâtre Nature,
Puis qu’une telle fleur ne dure
Que du matin jusques au soir !

Donc, si vous me croyez, mignonne,
Tandis que votre âge fleuronne
En sa plus verte nouveauté,
Cueillez, cueillez votre jeunesse :
Comme a cette fleur, la vieillesse
Fera ternir votre beauté.


Bản dịch Việt ngữ của thi sĩ David Lý Lãng Nhân

2-2-2- Em yêu, hãy ra xem hoa hồng nở ( Ly Lãng Nhân dịch)

Em yêu, hãy xem đóa hồng hé nụ !
Cánh hoa mầu rực rỡ nắng ban mai
Mịn như nhung tà áo khép lung lay
Da em nỏn nà xinh như hoa đó

Kìa, em thấy trong không gian nho nhỏ
Nụ hồng trên cành đó quá đẹp xinh
Nhưng, Ô hay! Sao Tạo Hóa vô tình
Hoa chỉ đẹp một ngày rồi tàn tạ

Em yêu quí, hãy tin anh em ạ !
Khi tuổi em hoa mộng ngát xuân tình
Hãy hái đi, hái lấy tuổi xuân mình
Kẻo già đến, đẹp xinh đâu còn nữa.


David Ly Lãng Nhân
Madison, AL, Feb 15, 2009

********
2-3- François de Malherbe

Đồng thời với hai nhà thơ Robert Herrick và Ronsard, nhà thơ người Pháp François de Malherbe (1555-1628) cũng dùng Hoa Hồng để chỉ một người con gái, ví đời con gái như hoa hồng mà sắc đẹp chóng tàn phai. Ông nổi tiếng đặc biệt vể hai câu thơ :

Et rose elle a vécu ce que vivent les roses
L' espace d'un matin


(Là Hồng, nàng đã sống nơi các loài Hồng
Khoảng khắc một buổi sáng)

Hai câu này trích trong bài thơ

Consolation à M. du Perrier sur la mort de sa fille.

Ông Du Perrier có cô con gái lên 5 tuổi mất sớm. Malherbe làm bài thơ để chia buồn và an ủi ông Du Perrier.

Trong bài thơ dàì nhiều đoạn, có một đoạn như sau:

(...) Mais elle était du monde où les plus belles choses
Ont le pire destin
Et rose elle a vécu ce que vivent les roses
L'espace d'un matin. (......)


Theo một giai thoại viết về hai câu thơ bầt hủ này, thì do một sự tình cờ, chứ không phải do ý của tác giả sáng tác, câu thơ Et rose elle a vécu ce que vivent les roses, l'espace d'un matin. nguyên văn của Malherbe viết đưa cho nhà in là:

Et Rosette a vécu ce que vivent les roses, l' espace d'un matin.

Tại sao lại Rosette ?

Vì bài thơ chia buồn gửi ông Du Perrier này gửi năm 1598, ông đã lấy từ bài thơ của ông làm gửi chia buồn cho ông Cléophon năm 1592 nhân dịp con ông Cléophon là Rosette chết. Ông đã nhầm tên con ông Cléophon là Rosette với con ông Du Perrier là Marguerite, nên ông viết Et Rosette elle a vécu ce que vivent les roses l'espace d'un matin.

Nhà in đã sửa thành "et rose, elle a vécu ce que vivent les roses, l' espace d'un matin " và in ra như thế.

Sự tình cờ làm câu thơ nổi bật lên là hay, có âm điệu, có nghĩa ly sâu sắc hơn câu thơ nguyên tác, để lại cho hậu thế, cho đến bây giờ, chúng ta được hưởng hai câu thơ tuyệt tác, đọc vẫn còn thấy hay, thấm thía mãi mãi.

****************************************************************

2-4 - GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG :

Chết về câu đối

Trong văn chươngViệt nam cũng có những giai thoại lý thú. Một trong những giai thoại đó là "Chết về câu đốỉ".

Thời vua Quang Trung, tiến sĩ Ngô thời Nhiệm cựu thần tử nhà Lê, được thăng chức Binh Bộ Thượng thư, tước Tình Phái Hầu, giữ việc bang giao với nhà Thanh bên Tàu.

Ngô Thời Nhiệm có một người bạn học cùng tỉnh tên là Đặng Trần Thường, thi không đỗ, mà tính tình phóng khoáng thích chơi bời giao thiệp rộng không thích học nên thường túng thiếu, được Ngô thời Nhiệm giúp đỡ tiền nong. Ngô thời Nhiệm khuyên bạn nên cố chí lập thân kẻo xuốt đời bị lỡ dở.

Đặng trần Thường cho là bị Ngô thời Nhiệm phỉ báng, nên bỏ vào trong Nam theo phò chúa Nguyễn Ánh.

Gia Long thắng Quang Trung, lấy được Bắc Hà. Ngô thời Nhiệm lúc đó đã về trí sĩ. Nhưng có lệnh của Gia Long bắt tất cả những cựu thần của Quang Trung phải ra trình diện.
Dặng Trần Thường vì vào Nam theo Gia Long, nên được cử làm chức Tán Lý Bắc Thành. Thường cho đòi Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn gia Phan ra trình diện ở Văn Miếu Hà Nội.

Thường hợm hĩnh là đã thành công, nhớ tới cái thù xưa bị Nhiệm làm nhục, cố ý trả thù.

Thường ra một câu đối cho Nhiệm :

Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai?

Có ý nhắc Ngô thời Nhiệm làm quan tuớc hầu, làm Chánh sứ giao thiệp với nhà Thanh, nay bị thua nhục, trái lại bây giờ Thường được cử làm quan to chức lớn, vậy Thường lên mặt hỏi Nhiệm " Trong trần ai ai dễ biết ai ? "

Không may chút sợ sêt, không mảy may chút khuất phục, Nhiệm ngang nhiên trả lời :

Thế Chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế.
(Chú thích: Xuân Thu và Chiến quốc là hai giai đoạn loạn lạc các nước đánh lẫn nhau trong cổ sử nướcTàu)

Câu trả lời tỏ chí khí bất khuất, không chịu nhún nhường, làm Thường tức giận. Nhớ tới cái nhục khi trước, Thường ra lệnh đánh ông Ngô Thời Nhiệm ba chục roi. Lính được Thường ra lệnh đánh mạnh, nên sau đó ông Nhiệm bị rập xương đứt thịt bị thương trong những chỗ phạm trong người, khiêng về nhà ba ngày sau thì chết.

Trước khi chết ông Nhiệm làm câu thơ tuyệt bút :

Ai tai Đặng trần Thường
Chân như yến xử đường
Vị ương cung cố sự
Diệc thị nhĩ thu trường


Có nghĩa là :

Thương thay cho Đặng trần Thường, nay quyền thế lắm đấy, nhưng khác nào như con chim yến làm tổ trong một cái nhà sắp cháy, rồi sẽ khốn đến nơi.
Quả nhiên về sau Đặng trần Thường bị bắt giam vua Gia Long kết án xử tử về tội tham nhũng thời gian làm Tàn Lý Bắc Thành. ở Hà nội.


*********************************************************************************************************************************************

2-5 - THƠ DAVID Lý LÃNG NHÂN

2-5-1 -- TÌNH XUÂN MĂNG TRẺ MUÔN ĐỜI

Thơ David Lý Lãng Nhân

Tình Xuân Măng Trẻ Muôn Đời

Ý Xuân Đẹp già xưa như Đất Mẹ
Tình Yêu Đời măng trẻ mãi ngàn năm
Sắc Xuân vàng mai rụng phủ đầy sân
Mộng Xuân ấm ru hồng em giấc ngủ

Xuân trở lại cho anh đào cười nụ
Tuyết trắng tan rửa sạch chữ ưu phiền
Chậu Xuân nầy anh ươm cánh thủy tiên
Hồn thanh thản dâng cho Tình mãi mãi


Madison, AL, March, 2008

*****************************************************

2-5-2 HẢI ÂU GÀO SÓNG

Thơ David Lý Lãng Nhân

Truyện kễ rằng: có hai thi sĩ Việt
Sống cách nhau vì biển Đại Tây Dương
Cùng mến nhau qua tâm tưởng ly hương
Thân thiết hơn họ hàng ruột thịt

Họ sống đời thường nhân ẩn tích
Viết cho nhau những chuyện tâm tình
Những vần thơ ấm áp xinh xinh
Xen hờn tủi, xót xa nhức nhối

Chia mộng đẹp xuân thì đắm đuối
Chia đêm đen khắc khoải tâm hồn
Bao chiều sương phủ liệm hoàng hôn
Bình minh rụng sao thưa lác đác

Hồn thơ dậy sóng triều dào dạt
Nhạc lòng tuôn suối chảy rì rầm
Ngày nhớ nhung se sắt âm thầm
Đêm đốt lửa sưởi hồn côi cúc

Đông nặng trĩu bầu trời sữa đục
Hè ve ngân chim sáo bay vèo
Lá thu vàng lả tả cuối đèo
Búp đào cuộn ý thơ tri kỷ

Ly pha lê nhớ bầu rượu quí
Chuyện năm xưa hờn dỗi vui buồn
Nước sông Seine êm ả sầu tuôn
Bãi cát trắng Destin mòn mắt

Nước cũ hương xưa đôi lần nhắc
Huế xa xăm, Đà lạt ẩn sương mù
Dòng Cửu Long, miền châu thổ, cố đô
Sài gòn đó, truyện tang thương biến đổi…
Dĩ vãng đi ảnh hình còn hấp hối
Tương lai vế gieo rộn rả xô bồ
Nợ áo cơm trả biết đến bao giờ
Duyên thi hữu suốt một đời vương vấn

Chuông Giáo đường, lời cầu kinh thành khẩn
Kiếp nầy xin cố níu bạn tri âm
Nửa mãnh đời xin xé giữa hồng tâm
Ôi, tri kỷ xin đừng làm hư mất

Bao cảnh đẹp ru hồn say chất ngất
Bao lởi thơ ý thắm, mộng xanh đời
Nghìn năm sau chim câu trắng nhớ đôi
Hải âu đó hết đơn côi gào sóng

Madison, AL, Jan 27, 2009

**********************************************************

2 - 6 – THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

TRẢ TA SÔNG NÚI

Trải bốn nghìn năm dựng nước nhà
Sông khoe hùng dũng, núi nguy nga
Trả ta sông núi bao người trước
Gào thét đòi cho bọn chúng ta…
Trả ta sông núi từng trang sử
Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
Không đòi, ai trả núi sông ta

Cờ báo phục hai bà khởi nghĩa
Ðuổi quân thù, xưng đế một phương
Long Biên sấm dậy sa trường
Ba thu xã tắc, miếu đường uy nghi
Xót nòi giống, quản chi bồ liễu
Dòng Cẩm Khê còn réo tinh anh
Một phen sông núi tranh giành
Má hồng ghi dấu sử xanh đời đời

Bể dâu mấy cuộc đổi dời
Lòng trăm họ vẫn dầu sôi bừng bừng
Mai Hắc Ðế, Phùng Hưng, Bố Cái
Liều thế cô dằng lại biên cương
Ðầu voi, Lệ Hải Bà Vương
Dù khi chiến tử vẫn gươm anh hào
Tinh thần độc lập nêu cao
Sài lang kia, núi sông nào của ngươi?
Núi sông ấy của người dân Việt
Chống Bắc phương, từng quyết thư hùng
Ngô Quyền đại phá Lưu Cung
Bạch Ðằng Giang nổi muôn trùng, sóng reo
Hồn tự chủ về theo lửa đuốc
Chữ thiên thu: Nam Quốc sơn hà
Phá tan nghịch lỗ không tha
Tướng quân Thường Kiệt gan già mấy mươi
Gươm chiến thắng trỏ vời Ðông Bắc
Hịch vải nêu tội giặc tham tàn
Dựng nhân nghĩa, vớt lầm than
Danh thơm ải ngoại, sấm ran biên thùy
Khí thiêng tỏa chói tư bề
Phường đô hộ có gai ghê ít nhiều?…

Cửa Hàm Tử vang teo vết cáo
Bến Chương Dương cướp giáo quân thù
Trận Ðà Mạc dẫu rằng thua
Làm Nam quỷ, chẳng làm vua Bắc đình
Chém kiêu tướng, đồn binh Tây Kết
Triều Phú Lương gầm thét giang tân
Phá cường địch báo hoàng ân
Trẻ thơ dòng máu họ Trần cũng sôi
Kìa trận đánh bèo trôi, sóng dập
Sông Bạch Ðằng thây lấp xương khô
Những ai qua lại bây giờ
Nghe hơi gió thoảng, còn ngờ quân reo
Hịch Vạn Kiếp lời khêu tướng sĩ
Hội Diên Hồng quyết nghị toàn dân
Khuông phù một dạ ân cần
Vó thiêng ngựa đá, hai lần bùn dây
Sơn hà mấy độ lung lay
Máu bao chiến sĩ nhuộm say mầu cờ

Cảm ý núi ngồi mơ độc lập
Thuận tình sông trôi gấp tự do
Ấy ai đầu dựng cơ đồ
Gấm thêu lời chiếu Bình Ngô thuở nào
Cơn nguy khốn ra vào sinh tử
Thân nằm gai, lòng giữ sắt son
Linh Sơn lương chúa hao mòn
Quân tan Côi Huyện, chẳng còn mảy may
Chén rượu ngọt cùng say thấm thía
Tình cha con mà nghĩa vua tôi
Thuận dân là hợp ý trời
Sử xanh chót vót công người Lam Sơn

Quốc dân chung một mối hờn
Cần câu đánh giặc mà hơn giáo dài
Chống ngoại địch, gươm mài quyết chiến
Voi Quang Trung thẳng tiến kinh kỳ
Phá Thanh binh trận Thanh Trì
Sông Hồng khoảng khắc lâm ly máu hồng
Núi dậy sấm cho sông lòe chớp
Cờ Tây Sơn bay rợp Bắc Hà
Xác thù xây ngất Ðống Ða
Bụi trường chinh hãy còn pha chiến bào

Tinh thần độc lập nêu cao
Sài lang kia, núi sông nào của ngươi
Cường quyền vẫn muôn đời cưỡng áp
Dưới bàn tay giặc Pháp càng đau
Chúa tôi nhỏ lệ cùng nhau
Khua chiêng hải ngoại, rừng sâu kéo cờ
Dạ Cần Vương trơ trơ thiết thạch
Kẻ Văn Thân, hiệp khách cùng chung
Hoàng Hoa Thám, Phan Ðình Phùng
Khói reo Thanh Nghệ, lửa bùng Thái Nguyên
Hợp Nghĩa Thục kết liên đồng chí
Xuất dương tìm tri kỷ Ðông Ðô
Phan Sào Nam, Phan Tây Hồ
Long đong bốn bể, mưu đồ cứu dân
Vận nước chửa hết tuần bĩ cực
Sức người khôn đọ sức ông xanh
Mỗi phen gắng gỏi tung hoành
Thương ôi! sự nghiệp tan tành mỗi phen
Nguyễn Thái Học gan bền, chí cả
Họp đồng bang gióng giả nên đoàn
Rừng xanh bụi cỏ gian nan
Mong đem nhiệt huyết dội tan cường quyền
Tổ chức việc tuyên truyền, ám sát
Khắp nơi nơi, từng hạt, từng châu
Xiết bao hy vọng buổi đầu
Một đêm Yên Bái ngờ đâu tan tành

Ôi Việt sử là tranh đấu sử
Trước đến sau cầm cự nào ngơi
Tinh thần độc lập sáng ngời
Bao người ngã, lại bao người đứng lên

Ngày nay muốn sông bền, núi vững
Phải làm sao cho xứng nguời xưa
Yêu nòi giống, hiểu thời cơ
Bốn phương một ý: phụng thờ giang sơn
Ðừng lo yếu, hãy chung hờn
Cần câu đánh giặc từng hơn giáo dài

Trả núi sông ta! lời dĩ vãng
Thiên thu còn vọng đến tương lai
Trả ta sông núi! câu hùng tráng
Là súng là gươm giữ đất đai

Trông lên cao ngất phương trời
Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc cờ.

Vũ Hoàng Chương

********************************************************************************************************************************************

MỤC 3 - VUI BUỒN CÙNG BẠN ĐỌC

3-1 - - HÌNH ẢNH THI QUỐC TẾ " CHỒNG CHÚA VỢ TÔI " Phần 1

Giải 6 - SERBIE


GIẢI 5 – HOA KỲ




Giai 4- ANH quốc – United kingdom


GìAI BA – GRÈCE – HI LAP




GIẢI NHÌ – IRELAND




GIẢI NHẤT – ĐÔNG ÂU


GIẢI THƯỞNG DANH DỰ : Một xứ Ả Rập cổ


3-2 - HÌNH ẢNH THI QUỐC TẾ " CHỒNG TÔI VỢ CHÚA " Phần 1

Vì có it nước dự thí nên chỉ có hai giải thưởng, không ghi rõ xuất xứ?
****

GIẢI NHẤT "CHỒNG TÔI VỢ CHÚA"


GIẢI NHI "CHỒNG TÔI VỢ CHÚA"


**************

3-3 - A date – bản chữ Anh

After 21 years of marriage, my wife wanted me to take another woman out to dinner and a movie. She said I love you but I know this other woman loves you and would love to spend some time with you.

The other woman that my wife wanted me to visit was my MOTHER, who has been a widow for 19 years, but the demands of my work and my three children had made it possible to visit her only occasionally.

That night I called to invite her to go out for dinner and a movie.

"What's wrong, are you well," she asked? My mother is the type of woman who suspects that a late night call or a surprise invitation is a sign of bad news.

"I thought that it would be pleasant to be with you," I responded. "Just the two of us."

She thought about it for a moment, and then said, "I would like that very much."

That Friday after work, as I drove over to pick her up I was a bit nervous. When I arrived at her house, I noticed that she, too, seemed to be nervous about our date. She waited in the door with her coat on. She had curled her hair and was wearing the dress that she had worn to celebrate her last wedding anniversary.

She smiled from a face that was as radiant as an angel's.

"I told my friends that I was going to go out with my son, and they were impressed, "she said, as she got into the car. "They can't wait to hea r about our meeting".

We went to a restaurant that, although not elegant, was very nice and cozy. My mother took my arm as if she were the First Lady. After we sat down,

I had to read the menu. Large print. Half way through the entries, I lifted my eyes and saw Mom sitting there staring at me. A nostalgic smile was on her lips.

"It was I who used to have to read the menu when you were small," she said.

"Then it's time that you relax and let me return the favor," I responded.

During the dinner, we had an agreeable conversation - nothing extraordinary, but catching up on recent events of each other's life. We talked so much that we missed the movie.

As we arrived at her house later, she said, "I'll go out with you again, but only if you let me invite you." I agreed.

"How was your dinner date?" asked my wife when I got home. "Very nice. Much more so than I could have imagined," I answered.

A few days later, my mother died of a massive heart attack. It happened so suddenly that I did to do anything for her.

Some time later, I received an envelope with a copy of a restaurant receipt from the same place mother and I had dined.

An attached note said: "I paid this bill in advance. I wasn't sure that I could be there; but nevertheless, I paid for two plates - one for you and the other for your wife. You will never know what that night meant for me. I love you, son."

At that moment, I understood the importance of saying in time: "I LOVE YOU!" and to give our loved ones the time that they deserve.

Nothing in life is more important than God and your family. Give them the time they deserve, because these things cannot be put off till "some other time."

( Bản của Marie Claire Ton gữi tới. Cảm on MCT)

*******************************************************

3 - 4 - – Một cuộc hẹn - bản dịch của Tô Vũ

Sau 21 năm lấy nhau, vợ tôi bảo tôi mời một bà đi ăn cơm tối với tôi và đi coi xi-nê. Vợ tôi nói, em yêu anh lắm nhưng em biết rằng bà ấy cũng yêu anh và mong được gần anh .
Bà phụ nữ mà vợ tôi khuyên tôi đi găp là mẹ tôi. Mẹ tôi ở goá từ 19 năm nay. Vì bận công việc và mắc bổn phận đối với 3 đứa con nên tôi ít có dịp gặp mẹ tôi. Tối hôm đó tôi điện thoại mời mẹ tôi đi ăn cơm nhà hàng và đi coi chiếu bóng.

- Có chuyện gì chẳng lành xảy ra không con ? con có khoẻ không ? mẹ tôi hỏi.

Mẹ tôi là môt người đàn bà đa nghi thấy gọi điện thoại ban đêm và bất thường mời đi ăn cơm là nghĩ ngay rằng đó là dấu hiệu của điều gì chẳng lành.

- Không có chuyện gì đâu mẹ, con muốn hai mẹ con gặp nhau, và chỉ hai mẹ con thôi.

Mẹ tôi suy nghĩ giây lát và nói : Mẹ cũng thích như vậy

Tối thứ sáu, tôi lái xe đi đón mẹ tôi, đầu óc tôi hơi kích thích. Khi tôi tới nơi, tôi để ý thấy mẹ tôi cũng không bình tĩnh về cuộc gặp gỡ này giữa hai mẹ con. Bà chờ tôi ở cửa. Bà đã khoác áo ngoài. Tóc bà mới uốn và bà mặc bô đồ mà bà mặc khi kỷ niệm lần chót ngày cưới với cha tôi.

Mẹ tôi cười. Mặt bà rạng rỡ như mặt một thiên thần.

Khi ngồi vào trong xe mẹ tôi nói là bà kể cho những bà bạn là bà đi ăn cơm với con , các bà bạn đêu cảm động. Các bà nóng lòng muốn nghe mẹ tôi kể chuyện về cuộc gặp gỡ tối nay giữa hai mẹ con.

Chúng tôi tới môt nhà hàng tuy không được sang trọng lắm, nhưng cũng rất đẹp và ấm cúng. Tay mẹ tôi dựa vào cánh tay tôi y như một bà Đệ Nhất Phu Nhân. Chúng tôi ngồi vào bàn. Tôi đọc cuốn thực đơn, in trên giấy khổ lớn. Lúc đang chọn những món diểm tâm khai vị, tôi đưa mắt nhìn mẹ tôi, tôi thấy mẹ tôi cũng đang nhìn tôi với một nụ cười trên môi như mẹ tôi đang nghĩ đến những kỷ niệm cũ.

Mẹ tôi nói: Mẹ nhớ khi con còn nhỏ thì mẹ đọc thực đơn chọn những món ăn.

Tôi trả lời: Đã đến lùc mẹ phải nghỉ ngơi để cho con trả ơn nghĩa mẹ.

Trong bữa cơm, chúng tôi vui vẻ nói chuyện, không có chuyện gì ghê gớm quan trọng, mà chỉ là những tin của đời sống hàng ngày gần đây của hai mẹ con. Chúng tôi mải nói chuyện đến nỗi quá cả giờ đi coi chiếu bóng.

Khi tôi đưa bà về đến nhà, bà nói : Mẹ sẽ đi ăn với con lần nữa, nhưng với điều kiện là phải để mẹ trả tiền mời con. Tôi đồng ý.

Khi về đến nhà, vơ tôi hỏi " Bữa cơm gặp mặt vui vẻ chứ anh?

- Vui lắm. Vui hơn anh tưởng tượng? tôi trả lời.

Ít ngày sau mẹ tôi chết vì cơn đau tim. Bệnh đến quá bất ngờ,tôi không thể làm gì cho mẹ tôi được trước khi bà chết.

Rồi tôi nhận được một phong bì, trong phong bì có để một hoá đơn của tiệm ăn mà hai mẹ con tôi đến ăn.

Trên một mảnh giấy đính kèm vào tờ hóa đơn, mẹ tôi viết: Mẹ trả tiền trước bữa ăn này, mẹ không chắc còn đến ăn với con được, tuy nhiên mẹ cũng trả tiền cho hai người ăn, cho con và cho vợ con. Con chẳng thể nào biết được rằng buổi tối hôm con mời mẹ đi ăn đó rất quan trọng với mẹ, mẹ rất đỗi yêu con.

Lúc đó tôi hiểu tầm quan trọng của câu I LOVE YOU, cần nói đùng lúc để người mình yêu quý xứng đáng với thời gian nói đó.

Trong đời, không có gì quan trọng bằng Chúa và gia đình. Hãy dành cho họ tất cả thời giờ cần thiết mà họ xứng đáng, bởi vì những giờ phút đó không thể hoãn vào lúc khác được.

Tô Vũ dịch 250309

**************************************************************************

3- 5- BIA BỌT

Giáo sư dạy triết hôm ấy, nhẹ nhàng đứng lớp giảng giải bằng những cử chỉ khác thường, chầm chậm. Lần này, ông không còn hăng say năng nổ như mọi bữa, nhưng thay vào đó, ông bình tĩnh, thuyết phục đám sinh viên đang hau háu đợi chờ. Ông nhấc nhẹ hũ thuỷ tinh lên, lẳng lặng nhồi vào đó các quả bóng nhựa để chơi golf. Làm xong, ông giơ lên cao hỏi đám sinh viên đang theo dõi xem cái hũ này đầy rồi hay chưa. Đám sinh viên đồng thanh chấp nhận.

Tiếp theo, ông lấy thêm mấy hòn đá cuội nhỏ, bỏ vào hũ để khoả lấp các lỗ còn trống trong hũ. Xong, ông hỏi đám sinh viên một lần nữa xem như thế đã đầy hũ thuỷ tinh chưa. Đám sinh viên quan sát kỹ một hồi, rồi đồng thanh đáp: đúng thế thưa thầy.

Giáo sư lại cầm hộp thiếc đựng cát bụi đường trần, đổ thêm vào hũ, cho ngập đầy, không còn chỗ chứa. Bình thường, "cát bụi đường trần" cứ sục sọi tìm chỗ trống trong hũ, để cố len thêm. Xong đâu đấy,vị giáo chức bậc thầy lại hỏi đám sinh viên lần nữa xem hũ kia nay đầy hơn chứ. Cũng thế, đám sinh viên xem kỹ, đã trả lời: rất đầy.

Đến đây, vị Giáo sư lấy hai chai bia để sẵn mở nút, trút vào hũ cho thấm ngập hết phần còn lại bên trong. Đoạn, ông lại hỏi ý kiến đám sinh viên: xem hũ có đầy hay không ? Sinh viên lại thưa: đã tràn đầy, không chỗ nào mà chêm. Sau đó, vị giáo sư bắt đầu giảng:

"Hôm nay, tôi xin thưa với các bạn, một chuyện: tôi đề nghị các bạn cứ coi hũ thuỷ tinh này tượng trưng cho đời mình. Quả bóng nhựa chơi gôn là những gì rất quan trọng, tựa như: niềm tin, gia đình, con cái, bạn bè, sức khoẻ, cả đến đam mê. Tức là, những gì còn đó ở lại với các bạn, khi mọi sự đều đã mất. Lớp đá vụn, tượng trưng cho công ăn việc làm, nhà cửa và xe cộ; tức những gì rất qua đi. Dễ đổi thay. Cát bụi đuờng trần là tất cả những chuyện này khác, vật thể rất nhỏ. Nếu bạn bỏ những thứ đó vào hũ trước, thì hũ sẽ không còn chỗ cho đá cuội và banh gôn. Cuộc đời của ta cũng hệt như thế. Nếu các bạn bỏ tất cả thì giờ và năng lượng của mình có vào những vật đựng nho nhỏ, sẽ không có chỗ chen chân cho những thứ khác quan trọng hơn.

Vì thế, đề nghị của tôi hôm nay, là: hãy chú ý đến những gì là trọng yếu cho hạnh phúc của mỗi người. Hãy cứ bỏ giờ ra, mà gần gũi con cái mình. Gần cha mẹ mình. Hãy năng thăm viếng ông bà, người già hoặc các vị trọng tuổi. Thỉnh thoảng cũng nên kiểm tra lại sức khoẻ. Đưa người yêu đi ăn tối. Giống như hồi chưa cưới. Làm thế, bạn vẫn còn thì giờ để dọn dẹp nhà cửa, sửa sang chỗ cần dọn. Hãy để tâm đến những quả bóng chơi gôn trước, bởi đó là những gì bức thiết, cần làm. Hãy sắp xếp thứ tự ưu tiên, cho mọi chuyện. Còn lại, thì tất cả vẫn chỉ là "cát bụi đường trần", dễ làm thân..."

Nghe thế, sinh viên trẻ nọ mạnh dạn giơ tay cao, phát biểu: "Thưa. Đồng ý là như thế. Nhưng, sao thày lại đổ hai chai bia vào đó, thay vì nước lã ?" – "Câu bạn hỏi rất hay. Bia bọt đổ vào, là có ý nói rằng: trong hiệp thông nguyện cầu với nhau; hoặc, mỗi khi làm bất cứ chuyện gì, hãy nên nghĩ đến chuyện vui vui. Có bia có bọt, ngọt ngào đầy tình thương yêu khó kiếm, chốn lạnh lùng".

(Bài của Thanh Lý gửi tới. Cảm ơn Thanh Lý)

****************************************************************************************

3-6 - Tin buồn



Trong tháng ba , nhạc sĩ Xuân Vinh đã bỏ chúng ta trở về nơi đất Chúa. Khoảng 150 bạn hữu thương tiếc anh đã đến tiễn đưa anh về nơi vĩnh cửu.

Nhiều bạn đã loan tin rộng rãi như Đặng Mộng An, Thy Nhu và Jean Pierre, Mymy Le, Ngọc Lan và các bạn hữu khác.

Thy Nhu có đọc bài chào vĩnh biệt anh :
(…) Nhạc Sĩ Xuân Vinh giờ đây không còn nữa, nhưng Thy Như tin chắc rằng, từ đây Nhạc phẩm và Thi phẩm của Anh sẽ được nhiều người biết đến, và sẽ sống mãi mãi trong tim chúng ta.
Cuộc đời nhạc sĩ Xuân Vinh có thể nói, da phan anh rõ rệt nhất qua dòng thơ bất hủ trong bài CuộcTinh Đã Mất :

Hỡi trời xanh có chăng định mệnh
Để đời tôi sao mãi lênh đênh (…)
( trích điếu văn của Thy Như)

Tô Vũ có nhiều cảm tình với Xuân Vinh, quen biết anh từ lâu, nhưng Tô Vũ không thể đến tiễn đưa anh và chia buồn cùng gia đình anh được, xin đăng trong mục Nhạc Nhạc Nhạc số báo Cà Kê 17 này bài "Cuộc tình đã mất" sáng tác của anh do Khánh Ly trình bầy để Tô Vũ , Thy Như, Jean Pierre tưởng nhớ đến anh.

3- 7 - Diaporamas Văn Đức Trí

Tô Vũ cũng nhận được của Anh Văn Đức Tri và cô Đặng Mộng An một bản PPS (diaporama) với bải hát cuả Khánh Ly để tưởng nhớ đến anh Xuân Vinh. Tô Vũ xin gửi lên mạng trong số Cà Kê này. (coi cuối mục 3-7 này)

Anh Văn Đức Trí viết như sau :

Bonsoir anh Tô Vũ,

Je vous envoie le diaporama PowerPoint "CuocTinhDaMat-KhanhLy-VDT". L'auteur-compositeur de la chanson est le musicien Xuân Vinh. Il est né en juin 1943 à Ninh Bình et décédé en février 2009 à Paris 18e. Le titre de la chanson peut être traduit par "Mon Amour Perdu". C'est l'histoire de deux jeunes gens qui s'aimaient ; mais le jeune homme, pour des raisons que nous ignorons, n'avait pas demandé la main de la jeune fille. Lasse d'attendre, la jeune fille, un jour, était partie ailleurs se marier. C'est alors que le jeune homme réalisa ce qu'il perdait. Depuis, sa vie était comme une barque à la dérive, sans point d'attache (le fameux "con thuyền không bến" des chansons vietnamiennes). Est-ce une histoire biographique ? Nous l'ignorons. J'ai choisi des illustrations pour traduire l'atmosphère mélancolique de la chanson, une mélancolie nourrie de regrets (contrariétés causées par la non-réalisation d'un désir) et de remords (douleurs morales causées par la conscience d'avoir mal agi). C'est un hommage à Xuân Vinh à l'initiative de Đặng Mộng An.
Bonne soirée !

Trí (Văn Đức)

Ngoài ra anh VDTrí cũng gửi kèm theo một diaporama về "Le Printemps à Créteil". Créteil là thành phố anh VDT đang cư ngụ, anh là "đồng hương " với Tô Vũ ( hương là làng, đồng hương là cùng làng). Tô Vũ cũng ở thành phố Créteil.

Tô Vũ mời quý độc giả mở 2 cái diaporamas pps của anh Văn đức Tri đăng sau đây. Tô Vũ cảm ơn anh VD Trí và chúc anh vui mạnh.

"Cuộc Tình Đã Mất"

"Le Printemps à créteil"

(Xin lưu ý, khi bấm vào "lien" : "Cuộc Tình Đã Mất" hay " Le Printemps à Créteil" xin quý vị chờ đợi một thời gian ngắn, vì chương trình tương đối nặng. Nếu PPS mở ra nhưng không chạy, xin quý vị bấm vào "Slide Show" xong bấm vào "From Beginning". )

Những hình ảnh của anh Trí trong các diaporamas của anh Tô Vũ rất thích thú kể từ khi biết anh trong pps FERNANDO tuyệt hảo. Xin giới thiệu cùng quý độc giả những diaporama của anh gửi cho TV, Tô Vũ sẽ đưa lên Chuyện Cà Kê để quý độc giả thưởng thức.

3-8 Một tin vui : Hàn Lệ Nhân tìm được của bị mất cướp

Lâu quá mới được nghe tin Hàn Lệ Nhân, (Tô Vũ Bonjour Hàn Lệ Nhân !) mà người nhắc đến là một người đẹp ở cách Paris háng ngàn dặm. Nhắc tới để báo tin rắng bài hát của Hán Lệ Nhan bài " Viễn Khúc Việt Nam" bi cướp mất bản quyền ra sao thì nay châu về Hiệp phố.

Ở Paris nhiều người biết và có cảm tình với Hàn Lệ Nhân. Hàn lệ Nhan vừa là nhà thơ, nhà nhạc, nhà văn và đặc biệt lá ngưới sáng tác ra kiểu chữ đánh trên clavier chữ việt, kiểu chữ THINART tư mấy chục năm nay.

Người đẹp Hoàng Lan Chi mà Tô Vũ giới thiệu trong Cà Kê số 15, (Hello, bonjour Hoàng Lan Chi !) hiện phụ trách chương trình giới thiệu các săng tác mới tại đài phát thanh Nguời Việt Hải Ngoại ở Hoa Thịnh Đốn đã phỏng vấn Hàn Lệ Nhân về nhạc phẩm Viễn Khúc Việt Nam này.

Xin quý vi đọc bài Hoàng Lan Chi phỏng vấn Hàn lệ Nhan ,bài này Tô Vũ nhận được ngày 10 Mars 2009. Quý độc giả muốn nghe cuộc phỏng vấn này xin mở link :

www.dosite.net/lanchi/HanLeNhanVKVN.mp3

***

Lan Chi: Kính thưa quý vị, nhạc phẩm Viễn Khúc Việt Nam được ca sĩ Dương Triệu Vũ hát trong Paris by night 77 năm 2005 và trong CD Ngày Đó Có Em năm 2006. Chúng tôi xin gửi đến quý vị tâm tình của tác giả nhạc phẩm này, nhạc sĩ Hàn Lệ Nhân hiện đang cư trú ở Paris . Xin chào nhạc sĩ Hàn Lệ Nhân.

Hàn Lệ Nhân : Xin chào chị Lan Chi, chào quý thính giả đài Việt Nam Hải Ngoại.

LC : Thưa nhạc sĩ, nhạc phẩm Viễn Khúc Việt Nam nghe nói có môt đời sống khá ly kỳ! Hôm nay xin phép trò chuyện với nhạc sĩ để tìm hiểu thêm về vấn đề này. Trước hết xin nhạc sĩ vui lòng cho biết nhạc sĩ đã thai nghén VKVN từ bao giờ ?

HLN : Tôi được sinh ra và lớn lên tại xứ Lào, hoàn toàn chưa hề sống ở VN. Từ trước đến nay, tôi chỉ về VN 2 lần: 1973 được vài ngày và năm 2004 cũng vậy.

HLC : Xin nhạc sĩ cho biết VKVN viết năm nào và đến với giới thưởng ngọan lần đầu ở những đâu?

HLN: Ý định viết Viễn Khúc Việt Nam được manh nha từ năm 1982. Năm 1984 tôi đã viết xong nhưng lời chưa được vừa ý. Năm 1985 chúng tôi có thêm cháu thứ ba, tôi bèn ghép tên của hai người bạn thân là Hải và Nhi lại, đặt tên cho con là Hải Nhi. Tên của bé Hải Nhi vừa là để lưu niệm tình bằng hữu, vừa hàm nghĩa là đứa trẻ này được sinh ra tại hải ngoại. Rồi để làm quà ngày đầy tháng cho bé Hải Nhi, tôi lại đưa Viễn Khúc Việt Nam ra xem kỹ lại. Và lần này tôi rất vừa ý. Coi như VKVN hoàn chỉnh năm 1985 và đã được trình bày nhiều lần trong các sinh hoạt cộng đồng tại Pháp và các đêm văn nghệ bỏ túi như Sống Với Sáng Tác Mới, Hát Cho Nhau nghe, Đêm Thơ-Nhạc Hàn Lệ Nhân…do Văn Bút VN Hải Ngoại-Trung tâm Âu Châu tổ chức.

HLC: Sau đó có ca sĩ nào phát hành CD không ?

HLN: Năm 1986 ca sĩ Tấn Phát đã hát VKVN trong băng Phút Đầu Tiên phát hành tại Paris nhưng không đề tên nhạc sĩ.

HLC: Nhưng ca sĩ Xuân Lan sau đó đã hát VKVN và có đề tên HLN?

HLN: Đúng vậy. Ca sĩ Xuân Lan phát hành băng có tên “Ngăn cách” và có để tên tôi. Băng này phát hành tại Paris nhằm ủng hộ Hội Y Sĩ Thế Giới tức Médecins du Monde trong việc cứu giúp thuyền nhân Việt Nam .

HLC: Cơ hội nào đã khiến nhạc phẩm VKVN có mặt tại Hoa K ỳ?

HLN: Sau khi ca sĩ XL phát hành băng Ngăn cách vài tháng tại Pháp thì TT Làng Văn bên Hoa K ỳ mua bià cuốn băng trên.

HLC: Mua bìa nghĩa là sao?

HLN: Mua bìa nghĩa là chỉ thay bìa chứ không được thay đổi nội dung và chỉ để phát hành ở Mỹ.

HLC: Trên thực tế, TT làng Văn có làm đúng không?

HLN: Thưa không. Họ thay bìa nhưng nội dung bên trong thì …lại không ghi tên nhạc sĩ!

HLC: Nhạc sĩ có nói chuyện với TT Làng Văn?

HLN: Tôi và ca sĩ Xuân Lan có gọi nhưng không ăn thua gì cả. Xin được nói thêm, vào năm 1986 thì hiện tượng trên cũng bình thường chứ TT Làng văn không phải là cá biệt.

HLC: 10 năm sau, TT Thúy Nga lại sử dụng nhạc phẩm này nhưng tên tác giả là ca sĩ Tấn Phát phải không?

HLN: Đúng vậy. Khi TT Thúy Nga trình diễn đại hội PBN 77 vào 2005 thì bạn bè đã biết và mail báo tin. Tôi rất vui mừng khi thấy VKVN được xuất hiện trên một sân khấu lớn như vậy.

HLC: Và sau đó thì sao?

HLN: Sau khi Thúy Nga phát hành DVD PBN 77 - 30 Năm Viễn Xứ, thì đêm 30/4/2005, tôi bắt tay vào viết bài “Viễn Khúc Việt Nam: Ai Là Tác Giả?”, đăng lên trang Web Thúy Nga Online.com, Trinh Nữ.net và và vài Web khác, kể lại ngọn ngành nỗi long đong của đứa con tinh thần của mình, kèm theo đầy đủ vật chứng.

HLC: Vật chứng gì thưa nhạc sĩ?

HLN: Vật chứng gồm (1) Băng số 1 là nội dung nữ ký giả Hồng Trung của đài RFI tại Pháp phỏng vấn ca sĩ Tấn Phát; (2) Băng số 2 nội dung Hồng Trung phỏng vấn tôi về Viễn Khúc Việt Nam liên tiếp hai kỳ; (3) Mấy hình bià ngoài và trong của ba cuốn băng đã được phát hành (4) Bức thư viết bằng tay của ca sĩ TP gửi cho tôi với lời lẽ kiêu mạn, xấc xược và ngụy biện chối quanh; thay vì xin lỗi. Thật là đáng tiếc.

HLC: Phản ứng của TT Thúy Nga?

HLN: Năm 2005, Net đã rất mạnh nên chỉ trong vòng 2-3 tiếng đồng hồ sau, người điều hành Thúy Nga Online tên Tom đã trả lời. Rồi vài ngày sau, từ Hoa K ỳ, giám đốc TT Thúy Nga là cô Tô Ng ọc Thủy gọi về cho tôi…

HLC: Còn công khai thì TT Thúy Nga đã có hành động gì?

HLN: Trong cuốn băng kế tiếp tức PBN 78, MC Nguyễn Ngọc Ngạn đã đính chính.

HLC: Nhạc sĩ có cảm tuởng gì khi châu về hiệp phố?

HLN: Rất vui thưa chị. Xin chia sẻ tiếp, trong kỷ nguyên thông tin này chuyện viết sách để tự ca tụng mình, chuyện chôm chỉa một câu nói, vài câu bài thơ, chuyện nhận vơ một bản nhạc của người làm của mình rất dễ bị phanh phui. Tôi mong rằng những sự việc đó sẽ đừng bao giờ tái diễn nữa ở trong nước lẫn hải ngoại.

HLC: Xin cảm ơn nhạc sĩ. Nhạc phẩm VKVN do nhạc sĩ là người sinh ra, lớn lên ở Lào và không hề ở Việt Nam nên mới có những câu:

Chưa bao giờ về Hà Nội
Chưa bao giờ ghé Sài Gòn
Chưa bao giờ thăm xứ huế
Chưa bao giờ giờ thấy Việt Nam

Nhưng tôi là người Việt Nam .

Khiến người nghe cảm động. Và nếu chỉ nghe bản nhạc, có thể nhiều thính giả sẽ không hiểu vì sao có câu sau trong bản nhạc:

Quê mẹ trong tôi chỉ là văn chương

Nhưng nay thì thính giả đã rõ nhạc sĩ viết văn, soạn nhạc hoàn toàn do nhạc sĩ tự học ngôn ngữ mẹ đẻ qua sách vở.

Xin cho hỏi ai đã khuyến khích nhạc sĩ học tiếng Việt?

HLN: Trước 1975, hầu hết những người Việt được sinh ra và lớn lên tại Lào đều được cha mẹ cho học tiếng Việt, cao nhất là lớp ba. Trường hợp của tôi, tôi học tiếng Việt hết lớp ba ở trường tiểu học Lạc Hồng tại Savannakhet, Lào. Có lẽ do thân sinh tôi là một nhà nho nên ông có những câu nói làm tôi đến nay không sao quên được, chẳng hạn ông bảo " Đã lỡ bị sinh ra là người Việt thì không cách chi thay đổi được định mệnh. Dẫu có nhập tịch xứ người thì cũng chỉ là công dân giấy. Cách đơn giản và hay nhất là chấp nhận thân phận Việt. Mà đã là người Việt thì phải biết tiếng Việt. Còn nói và viết đúng tiếng mẹ đẻ là cách tỏ lòng thành cụ thể nhất đối với cội nguồn". Từ những lời gia huấn đó, và dù tôi học và nói được nhiều ngôn ngữ khác, nhưng trước sau sách Việt vẫn là sách gối đầu của tôi. Cần nói thêm rằng, trường hợp của tôi chỉ là một trường hợp điển hình, chứ còn nhiều người Việt sinh trưởng tại Lào mà giỏi tiếng mẹ đẻ hơn tôi nhiều, đơn cử nhà văn Phan Tình tại Pháp, nhà thơ Tâm Thơ tại Hoa Kỳ…

HLC: Xin cảm ơn nhạc sĩ HLN. Vâng, thưa quý thính giả, Viễn Khúc Việt Nam là một nhạc phẩm nói lên nỗi lòng của một con dân Việt nhưng lại bị xa bầy từ thuở chưa sinh. Xa bầy và luôn bị lạc lõng. Nhạc sĩ đã tâm sự, ở Lào thì người Lào coi là người Việt, khi về Việt thì người Việt bảo là người Lèo và khi định cư ở Pháp thì người Pháp coi là người …Tầu. Mặc cảm đó đã xui khiến anh viết nhạc phẩm VKVN.

Xin cảm ơn nhạc sĩ HLN. Chúc anh có thêm nhiều sáng tác trong năm 2009 đặc biệt nói lên tâm sự của những con chim lạc bầy như anh.

HLN: cảm ơn chị Lan Chi và xin kính chào quý thinh giả đài Việt Nam Hải Ngoại

Quý độc giả muốn nghe cuộc phỏng vấn này xin mở link :

www.dosite.net/lanchi/HanLeNhanVKVN.mp3

************************************************************************************************************************

3- 9 - Một bài thơ chua

Ngày đi Ðảng gọi 'Việt gian'
Ngày về Ðảng lại chuyển sang 'Việt kiều'
Chưa đi : phản động trăm chiều
Ði rồi : thành khúc ruột yêu ngàn trùng
Trốn đi Ðảng bắt đến cùng
Trở về mời gọi, săn lùng đô la
Ðảng ta ân đức bao la
Làm cụ thằng đểu, làm cha thằng lừa
Ngày xưa chửi Mỹ hơn người
Ngày nay nịnh Mỹ hơn mười lần xưa
Ngày xưa đánh Mỹ không chừa
Ngày nay con cái lại lùa sang đây
Ngày xưa Mỹ xấu, Ðảng hay
Ngày nay Ðảng ngửa hai tay xin tiền !'


Tác giả : Trần Khải Thanh Thủy, hiện nay đang nằm trong tù tại Việt Nam là tác giả của cuốn 'Viết Từ Hang Ðá, Nhỏ Lệ Cùng Dân'
(Bài do Cau Bon Nguyen va Tien Tung Nguyen Khai gui toi. TV cảm ơn hai vị)

******************************************************************************************

3-10 – thơ Hoàng Lan Chi

Tôi vào, em có vào không ?
thơ Hoàng Lan Chi

mấy năm trước khi người ta giới thiệu
thơ tân hình thức
tôi bực mình vì thơ kỳ khôi
thơ thì phải có điệu có vần
nghe du duơng mới là thơ chứ
tôi ghét cả thơ bí hiểm
nên ngày xưa tôi ghét nhất …Thanh Tâm Tuyền!
thơ gì kỳ cục vô duyên
đọc chả hiểu thì đọc làm gì cơ chứ

nhưng cách đây một tuần
tôi đi tìm dòng nhạc cô kia
từ cô đến anh rồi đến ảnh!
tôi lạc vào tân hình thức
tôi bật cuời khi đọc hết bài thơ


bài thơ ấy có những đọan tôi khoái
ghi ra đây chứng minh đoạn cuối cho nó rõ ràng


...nó
gọi con chó của anh bằng you rồi
cũng gọi anh bằng you luôn, có lần
anh giận quá bắt nó quì từ sáng
đến trưa, hàng xóm thấy được gọi cảnh
sát đến rước anh đi phỏng vấn, giảng

dạy anh bao đạo luật làm người nhưng
sao chẳng có đạo luật nói về ơn
cha như núi thái sơn nghĩa mẹ như
nước trong nguồn chảy ra, rồi cấm anh

không được tái phạm nữa nếu không anh
sẽ bị nghỉ mát trong nhà lao và
sẽ đem đứa con nối giống của anh
cho người khác nuôi, thế là anh không

dám đánh đòn dạy dỗ không dám to
tiếng la rầy, 18 tuổi thì chúng
muốn làm gì cũng được mình đâu có
quyền gì nữa, đất nước này bình đẳng

lắm em ơi. Bao năm rồi, anh như
cái máy, chạy đều đều
chạy sáng – chạy trưa
chạy chiều – chạy đêm
anh quên hết
những trăng vàng
quên bao sao sáng
quên ngàn cánh mây
quên gió thoảng
quên mưa bay
quên luôn chiếc áo lụa dài, eo thon
nhưng cũng may anh có
được những giọt cà phê
đen cùng anh chia xẻ
những đêm dài vô tận.

@
KKK

tôi thấy ngộ nghĩnh, à thơ thì mất thì giờ
cho có vấn điệu
văn cũng vất vả ngược xuôi với mở đầu
thân bài và kết luận
còn thơ tân hình thức thiệt là khỏe
cứ viết ra tùm lum

miễn sao nói được ý mình muốn nói
vì cuộc sống chung quanh, có
muôn ngàn điều múôn nói
phải nói cho nhanh kẻo

ý chạy mất tiêu
ở đó tìm vần tìm điệu
ý mất bà nó, ngồi đó mà kêu giời à!
bởi vậy hôm nay tôi gia nhập thơ tân hình thức

tôi hãi thơ vì bội thực thơ
thơ thở thờ thơ thật bất ngờ
thơ tân hình thức vui như tết
bạn có dzô không, tôi mời nè?

tanhinhthuc.org

à mà mấy năm trước tôi
cũng tí toáy vài vần thơ cóc
tôi gửi cho bạn bè
xem, xem xong anh lại gửi
cho cô ca sĩ Phương hồng quế
cô ta khen ngộ vì
tưởng thơ anh!

anh cũng gửi cho Thái thanh
nhưng Thái thanh cũng cóc hiểu
trái xương rồng là trái gì, anh
hỏi tôi, tôi cười mím chi

ra cái điều bí hiểm, trái
xương rồng khó kiếm như
lá diêu bông!

ới anh gì ơi, đừng théc méc nhánh xuơng rồng nữa nhé!

Nhánh xương rồng

Hòang Lan Chi

Con sông chảy có bao giờ khô cạn
Để rong rêu từ giã kiếp phù du
Anh có sợ thời gian vô tận?
Cho mắt buồn- xanh biếc nghìn thu

Cuối con dốc, giòng sông nào réo gọi
Tuổi thơ buồn, triền tóc lá me rơi
Cánh thời gian bay về không mỏi
Và không gian thu nhỏ trên môi.

Này sỏi nhỏ, góc gai đời con gái
Lăn dưới dòng như viên cuội trơn tru
Em bẻ nhánh xương rồng oan trái
Gửi lên vai giăng trắng sương mù

Hoàng Lan Chi

************************************************************************************

MỤC 4 – NHAC NHAC NHAC

8 bản nhạc :

1) Người ở lại Charlie. Nhạc Trần Thiện Thanh – Ca sĩ Nhật Trường hát
2) Cuộc tình đã mất. Nhạc Xuân Vinh sáng tác. Khánh Ly hát.
Để tưởng nhớ đến Xuân Vinh, Tô Vũ, Thy Như và Jean Pierre vô cùng thương tiếc.
3) Em tôi, thi nhạc giao duyên. Nhạc Lê Trạch Lựu. Lời Lưu trọng Lư –Trình bày Hồng Vân ngâm . Duy Trác hát
4) Besame Mucho, nhạc Mỹ thời 50/60, Dean Martin hát
5) Crazy love, nhạc Mỹ thời 50/60 – Paul Anka hát
6) Fascination, nhạc Mỹ thời 50/60 – Nat King Cole hát
7) If I give my heart to you, nhạc Mỹ thời 50/60 – Doris Day hát
8) Unchained Melody , nhạc Mỹ thời 50/60 – Elvis Presley hát


http://www.tovu.fr/KaKe17/1NguoiOLaiCharlie.html

http://www.tovu.fr/KaKe17/2CuocTinhDaMat.html

http://www.tovu.fr/KaKe17/3EmToi.html

http://www.tovu.fr/KaKe17/4BesameMucho.html

http://www.tovu.fr/KaKe17/5CrazyLove.html

http://www.tovu.fr/KaKe17/6Fascination.html

http://www.tovu.fr/KaKe17/7IfIGiveMyHeartToYou.html

http://www.tovu.fr/KaKe17/8UnchainedMelody.html