Giáo sư “Sử học tướng số hàm hồ” Nguyễn Mạnh Quang
PhoNang 2011/12/02(tiếp theo kỳ trước- toàn bộ phần viết trước đính kèm dưới)
Giáo sư "súc vật" Nguyễn Mạnh Quang
Chào anh “trí thức theo nhận định của Mao trạch Đông” Nguyễn mạnh Quang.
Nói chung Mao trạch Đông “nhân định” như thế về thành phần “trí thức” thì quả là “không hợp nhĩ” mấy. Hai nữa, Mao trạch Đông “nói thế” là vì thành phần trí thức đã “chống” Mao? Xong, lời một kẻ cầm quyền có số dân đông nhất thế giới không thể buông “hời hợt” mà ắt phải có lý do?
Xã hội (người đời) thường (dễ dãi) “cho” rằng “trí thức (智識)” là thành phần có bằng cấp (có học mà), ắt phải khôn ngoan, hiểu biết…. và “mặc nhiên” cũng là “tri thức (知識)”. Bởi chữ “tri (知)” (không có dấu sắc) này, một âm thì (cũng) đọc là “trí”(có dấu sắc), thì cũng nghĩa là như “có” trí tuệ.
[Luận Ngữ (論語) có câu: “Lí nhân vi mĩ, trạch bất xử nhân yên đắc trí (里仁為美, 擇不處仁焉得知?): Chỗ ở có đức nhân là chỗ tốt, chọn chỗ ở mà không chọn nơi có đức nhân thì sao gọi là sáng suốt được (tức là có trí tuệ)?(Hán Việt Từ Điển Trích Dẫn).]
Qua trên, là quan niệm “dễ dãi” (chợt thoáng) của xã hội về “trí thức”.
Nhưng thực tế, thì sự “đo lường” về “mặt” trí thức của con người ( có bằng cấp) đó lại bằng hành động. Cân nhắc xem “kẻ” có “trí thức” và hành động của “kẻ” “trí thức” ấy, có tương hợp, có thể hiện (ra) được tính cách “trí thức” của mình (bản thân kẻ đó) không.
Bằng không, “Chất đầy lông chim sẽ làm chìm thuyền; chở nhiều vật nhẹ sẽ làm gãy trục xe, miệng người ta làm chảy loài kim, nhiều lời gièm pha làm tan cốt nhục! (Sk.TMT)”, là cái “họa” gây ra bởi “miệng” kẻ “trí thức”! Nghĩa là những kẻ trí thức này chỉ có cái vỏ (trí thức); chứ thực tế, họ chỉ là những “con rối cuồng vọng” làm tối thêm, chẳng nêu sáng được gì cho nhân quần xã hội, cho hiện tình đất nước!
Sao vậy, là vì những “kẻ” trí thức ấy, đã không “Tri hành hợp nhất (知行合一)” Nghĩa là mới “cố gắng mài đũng quần trên ghế nhà trường” để có được “cái”(vỏ) “trí (智)”, chứ chưa đủ để “tri (知)” đâu!
“Chỉ có gẩy nghìn khúc mới hiểu được âm thanh, xem nghìn gươm mới hiểu được võ khí. Muốn đánh giá toàn diện phải rộng rãi kiến văn, nhìn núi cao để hiểu gò đống, thấy biển cả mới biết được mương ngòi. Khinh trọng phải vô tư, ghét yêu đừng thiên lệch …”, đó mới là nền tảng “có thể” gọi là “tri (知)” đấy!
Tri để “tri bỉ tri kỷ (知彼知己)”, thì khi lời nói (việc làm) mới hợp “lẽ đời, lòng người” được. Bằng không “Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi (學而不思則罔,思而不學則殆): Học (trí) mà không suy nghĩ thì mờ tối, suy nghĩ mà không học (tri) thì nguy hại.” Do vậy, bất cứ điều gì (nói, làm) từ những “dạng” trí thức đó, chỉ “toát ra” độc haị; Kẻ gây “độc hại” thì chỉ là phường “sâu, mọt” làm “rỗng, nát” xã hội; thành thử “giá trị” (trí thức) ấy, ắt phải thua (không bằng) cục phân. Vì “cục phân” còn có “giá trị” là bón (làm thức ăn)” cho cây cối hoa màu được tốt tươi.
Hẳn đó là ý “chung cuộc” của Mao trạch Động chăng (?)!
Mời anh Nguyễn mạnh Quang xem lại lời anh đã viết:
“3.- Ngày 30/11/1961, Diệm đã hí hửng và hồ hởi đồng loã với quân đội Mỹ trong việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam. ….. (Nguyễn mạnh Quang viết – bài kèm dưới)”
Đúng là “Học nhi bất tư tắc võng (học mà không suy nghĩ thì mờ tối)”. Anh Quang à, anh nghĩ độc giả là ai? Không lý chỉ là: Trần chung Ngọc, Trần tiến Long, Trần quang Diệu ….. những người không có lý trí, cuồng tính, hàm hồ, đần đần ….như anh (Quang)!
Và mời anh Quang xem “thiên hạ” viết gì về “chất độc da cam”. Trích đoạn từ link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A5t_%C4%91%E1%BB%99c_da_cam
“….Chất độc da cam (viết tắt: CĐDC, tiếng Anh: Agent Orange - Tác nhân da cam) là tên gọi của một loại chất thuốc diệt cỏ và làm rụng lá cây được quân đội Hoa Kỳ sử dụng tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Chất này đã được dùng trong những năm từ 1961 đến 1971 và nhiều người cho rằng đã làm tổn thương sức khỏe của những người dân thường cũng như binh lính Việt Nam, lính Mỹ cũng như lính Úc, Hàn Quốc, Canada, New Zealand có mặt như quân đồng minh của Mỹ mà có tiếp xúc với chất này, cũng như con cháu họ.
Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, mục đích quân sự chính thức của CĐDC là làm rụng lá cây rừng để quân đội du kích Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam không còn nơi trốn tránh. CĐDC là một chất lỏng trong; tên của nó được lấy từ màu của những sọc được vẽ trên các thùng phuy dùng để vận chuyển nó……”
Vậy tôi có ba điểm cần cân nhắc với anh Quang :
Điểm 1- Mục đính rải CĐDC là làm rụng lá cây rừng để Việt Công “không nơi ẩn nấp”. Sao anh Nguyễn mạnh Quang “rú” lên (như thằng Thích Bất 'Nhất' Hạnh) là “rải xuống đồng ruộng” .
Điểm 2 - CĐDC “được dùng trong những năm từ 1961 đến 1971” . Mà ông Diệm chỉ cầm quyền (còn) có hai năm “30/11/1961 (bắt đầu tiến hành rải CĐDC) đến 1/11/1963 (đảo chính)”, khi CĐDC được rải xuống rừng núi VN. Vậy, sau đó từ 1963 đến 1971: Tám (8) năm sau, thì trách nhiệm thuộc về ai … Trong đó có cả anh Nguyễn mạnh Quang đấy…. Vậy, hồi đó anh Nguyễn mạnh Quang có kiến nghị gì không….(?). Sao lúc nào anh Quang cũng “rú” lên là tự “Diệm”. Như thế, hẳn là bây giờ anh Quang “tắc cổ’, “khó thở”, “hàm hồ”, “vô học”…là không phải tại mình (Quang), mà cũng là tại “Diệm” hết đấy phải không ? Tội gì mà anh Quang không “hàm hồ” để đổ thừa “bậy”, Vì anh Quang sống dưới chế độ “Diệm” đến những chín (9) năm lận mà.
Điểm 3 - Ảnh hưởng của CĐDC trực tiếp đến “như binh lính Việt Nam, lính Mỹ cũng như lính Úc, Hàn Quốc, Canada, New Zealand có mặt như quân đồng minh của Mỹ…” , có nghĩa là ngay thời kỳ đó, cũng không ai đã hiểu “tác hại” thật của CĐDC lên con người như tế nào. Nên sự tác hại của CĐDC người ta mới nghiên cứu sau thời gian đó, và mời anh Quang xem quyết định của tòa án năm 2005 [ cách 44 năm sau (2005-1961= 44)], cũng trích từ link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A5t_%C4%91%E1%BB%99c_da_cam
“Vào ngày 10 tháng 3 năm 2005, quan tòa Jack Weinstein (thuộc Tòa án liên bang tại quận Brooklyn) đã bác đơn kiện, quyết định rằng những đòi hỏi của đơn kiện không có cơ sở pháp luật. Quan tòa kết luận rằng CĐDC đã không được xem là một chất độc dưới luật quốc tế vào lúc Hoa Kỳ dùng nó; rằng Hoa Kỳ không bị cấm dùng nó để diệt cỏ; …”
Vậy “luật” quôc tế không hề cấm. Thì việc cố TT Diệm đồng ý cho quân đội Hoa Kỳ rải thuốc khai quang (CĐDC) xuống vùng rừng núi VN, không cho VC ẩn nấp (dễ phát hiện), là hợp lý trong kế sách “Chiến pháp tiêu thổ ”.
Tiêu biểu, trong sử sách Việt, ba lần đại thắng quân Nguyên (giặc Mông Cổ) là Nhà Trần đều đã áp dụng “triệt để” kế sách “tiêu thổ kháng chiến”: Khi quân Nguyên tràn vào nước ta, các danh tướng nhà Trần một mặt di chuyển dân chúng lên rừng lánh lạn, một mặt dùng kế sách “tiêu thổ kháng chiến”: Cho quân sĩ phá nát ruộng vườn hoa màu, giếng nước thì bỏ thuốc độc, hồ ao thì rải lá ngón (lá có chất độc) làm cá chết…… tạo cảnh vườn hoang, nhà trống (tiêu thổ)…. Khiến quân Nguyên từ xa đến, không có gì để ăn, không có nước để uống…. . Quân Nguyên thiếu lương thực khiến suy yếu, sinh bệnh tật…Bấy giờ nhà Trần mới phản công và đều chiến thắng. Sau đó, khi người dân trở về lại quê quán, thì phải đào giếng nước khác, tát cạn những nguồn nước nhiễm độc, ao hồ sình thối…. Gây dựng lại vườn tược, mùa màng … nghĩa là dân chúng phải chịu sự khó khăn hàng năm mới dần dần ổn định….
Anh Nguyễn mạnh Quang dạy sử, không biết đến kế sách “tiêu thổ kháng chiến” của nhà Trần để chống quân Nguyên à? Thế mà cũng là “giáo sư sử học”. Đúng là phí uổng công lao dưỡng dục của cha mẹ anh!
Anh quá “đần”, anh không hề biết một “chút” gì về “hiểm họa Công Sản”, không hề biết gì về “cuộc chiến ý thức hệ” giữa hai phe “TỰ DO” và “CỘNG SẢN”. Mà buộc các cấp lãnh đạo phải hành động bức thiết ra sao. để chống lại “hiểm họa CS” ấy!
Anh chẳng biết được CĐDC tác hại đến con người như thế nào, cách nào, mà liều hàm hồ viết: “....Việc làm dã man này không biết đã sát hại bao nhiêu trăm ngàn hay hàng triệu nạn nhân, ..... (Nguyễn mạnh Quang viết – bài kèm dưới)” . Nếu đúng thế, thì “bọn” Việt Cộng “chui rúc ẩn nấp trong rừng”chịu ảnh thưởng trức tiếp CĐDC ắt “chết” hết, lấy đâu còn xảy ra vụ “Mậu Thân”; lấy đâu VC còn vững mạnh để “cưỡng chiếm” được miền nam thuộc VNCH vào 30/4/1975.
Mời anh Giáo sư sử học “hàm hồ” Nguyễn mạnh Quang xem “người ta” đánh giá thế nào về tác hại của CĐDC, cũng trích từ link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A5t_%C4%91%E1%BB%99c_da_cam
“Người ta đã tìm thấy CĐDC có chứa chất độc dioxin, nguyên nhân của nhiều bệnh như ung thư, dị dạng và nhiều rối loạn chức năng ở cả người Việt lẫn các cựu quân nhân Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Giáo sư Alvin L. Young - chuyên gia dioxin nói rằng "Không có tác hại sinh thái nào được ghi nhận ở động thực vật mặc dù một lượng lớn chất diệt cỏ và dioxin đã được sử dụng", và rằng "thông tin này chưa được xem xét trong các lần đánh giá trước của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ và Viện Y học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ". Tuy nhiên, giáo sư lưu ý rằng "các chất diệt cỏ đổ thẳng xuống đất và ngấm sâu trước khi thoái biến thì sẽ có tồn dư và vì vậy là một mối lo ngại." Còn theo Cựu Đại sứ Mỹ tại VN ông Michael Marine vẫn cho rằng mối liên hệ giữa sự phơi nhiễm dioxin và sức khoẻ con người vẫn chưa được chứng minh. Tuy nhiên ông đã công bố khoản tài trợ trị giá 400 nghìn USD để nghiên cứu ô nhiễm dioxin và tẩy độc tại sân bay Đà Nẵng.....”
Bằng đoạn văn “đánh giá” về “tác hại” CĐDC nêu trên. Rõ nét, chứng minh anh Giáo sư sử học Nguyễn mạnh Quang chỉ là dạng “Học (trí) mà không suy nghĩ thì mờ tối, ( Học nhi bất tư tắc võng, )”. “Mờ tối” thì “đích thực” là kẻ “đần độn”. “Đần độn” thì chỉ biết viết “láo”, “bịa đặt”, “bịp bợm”….để thỏa mãn cái “ma tâm” của anh (Quang) chứ làm sao lừa được độc giả.
Thêm nữa, ngay thời điểm đó (1961) có ai hiểu được “tác hại” của CĐDC đến “sinh vật” (thế nào) đâu (ngay cả chúng tôi vẫn đi thám sát, truy lùng Việt Công dưới rừng cây vùng Khâm Đức, mặc dù máy bay vừa mới rải thuốc vào chiều hôm trước) ! Việc rải CĐDC để làm rụng lá cây rừng (khai quang) không cho VC trú ẩn, là đúng “chiến pháp tiêu thổ”. Thì đó là cái tài của người lãnh đạo (tướng), sao cái đầu anh Quang lại “mờ tối” thái quá, không biết gì đâm ra “hàm hồ” “rú” lên “Diệm đã hí hửng và hồ hởi đồng loã với quân đội Mỹ…(N.m.Quang viết)” như vậy!
Chính vì anh Quang chỉ biết “rú lên tiếng”, nên không còn có đầu “suy nghĩ”, thành ra đã viết quá láo:
“Sự kiện này càng chứng minh cho chúng ta thấy rằng một khi đã trở thành tín đồ Da-tô thì họ trở thành những phường vong bản, phản dân tộc, mất hết nhân tín và trở thành hạng người “cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.” (Nguyễn mạnh Quang viết- bài kèm dưới)”
Đúng là chữ nghĩa của kẻ “vô học” Nguyễn mạnh Quang! Này, anh Quang à, điển hình là sằp tới 25 tháng 12 rồi đó, cả thế giới đều “lễ hội” mừng (nhân dịp) “Lễ Giáng Sinh” của “Da-tô” đấy. Con cháu anh Quang có “mừng (chúc tụng bạn bè, tiệc tùng, vui với lễ hội…)” lễ Giáng Sinh không? Tôi đố anh Quang cấm được “con, cháu” của anh Quang đấy! Không cấm được, thì lời viết của anh nêu trên thành “cái tát” ngay vào mặt “một tên” Giáo sư sử học Nguyễn mạnh Quang “hàm hồ, vô học” mà thôi!.
Tôn giáo (Phật giáo, Công giáo….) nào, cũng đều “dạy” cho con người về những điều “thiện”, “tốt”, dạy cho con người phải biết “lánh dữ, làm lành”. Công Giáo thì với tâm niệm (chủ trương, tín lý)”Công bình, bác ái”, Phật Giáo thì với “Từ bi, hỉ xả”….. Nên chỉ có “con người xấu”, chứ không hề có bất cứ một “tôn giáo xấu” nào cả.
Nên một khi anh Nguyễn mạnh Quang đã “vô liêm sỉ”, “dám” viết những dòng chữ “phi lý”, quá “láo” như thế; thì quả thật anh Nguyễn mạnh Quang mới chính là “kẻ” đã “mất hết nhân tính”. Chính những dòng chữ trên là bằng chứng đích thực xác định: Anh Nguyễn mạnh Quang mới là có “nguồn gốc của con người súc sinh”, nghĩa là: Anh Quang đã do “súc vật” sinh ra. Nói cho rõ nghĩa hơn là tự bản thân (tâm tính) anh Quang đã cho độc giả đi đến kết luận: “Cha mẹ anh Quang là súc vật”!
…………………
( còn tiếp một kỳ)
Trân trọng,
BN 587GIÁO SƯ “SỬ HỌC TƯỚNG SỐ HÀM HỒ” NGUYỄN MẠNH QUANG (USA).
Nhân đọc bài “NGÔ ĐÌNH DIỆM: CON NGƯỜI VÀ TỘI ÁC - Giao su su hoc Nguyen Manh Quang, USA” do Hoa Binh <tyvn1975@yahoo.com> post lên diễn dàn, với đề mục “IX.- MỘT SỐ NHỮNG VIỆC LÀM TÀN NGƯỢC CỦA VIET GIAN NGO DINH DIỆM”.(bài đính kèm dưới)
Đọc xong, không khỏi xót xa! Sao có người “nghèo” kiến thức như thế, mà lại là “giáo sư” được ư! Viết ra những ý nghĩ thô kệch quá mức tưởng tượng, mà lại là “giáo sư sử học”…. , thì thật là xót xa.thật!
Thưa anh Nguyễn mạnh Quang,
Chỉ cần đọc vài dòng khởi đầu bài viết của anh, là cảm thấy cả một nỗi buồn tê tái, nặng trĩu và lo âu! Không phải mấy từ cảm thán đó là bức xúc về kiến thức kém cỏi của anh. Mà vì lòng tràn ngập xót xa và đau đớn cho những ai, đã “lỡ” là học trò của anh.“ Cây xấu không thể sinh trái tốt”, “ Thày kém không thể nào dạy giỏi”, “Người thô kệch sao có được lời thanh tao”, “tri thức không có, thì tránh sao khỏi ý nông cạn”, phải không? Thưa anh Nguyễn mạnh Quang!
Anh Quang viết:
“Thông thường, người Việt Nam đều biết rằng:
1.- Đàn ông mà có cặp mắt “trắng bệch” là hạng người gian tham và ác độc, và những nguời “vô tu” là hạng người “bất nghì”,….(Nguyễn mạnh Quang viết-bài kèm dưới)”
[Lẽ dĩ nhiên, tôi sẽ cân nhắc với anh Quang về “cái” “nhận xét “tự bịt mắt” “lấy được” của anh Quang về “cặp mắt “trắng bệch”....” ý ám chỉ đến cố TT Diệm ở phần dưới.]
Lạ thật, anh là “giáo sư sử học” à, thế anh Quang đào ở đâu ra một “thằng” viết sử lại dùng khoa “tướng số (nhận dạng)” để khẳng định “tương lai” và “hành động “ của nhân vật như thế. Thât tội nghiệp cho anh Nguyễn mạnh Quang quá đi thôi.
Anh “giáo sư sử học” Nguyễn mạnh Quang ơi, anh chưa mắc bệnh thần kinh chứ? Sao anh cho rằng “những nguời “vô tu” là hạng người “bất nghì”…”!
Anh Quang có hiểu nghĩa chữ “nghì” ở đây là gì không? Tôi tin rằng anh chẳng biết chữ “nghì” này nghĩa là gì cho đúng! Bởi qua câu văn diễn đạt, thì rõ anh Quang có ý cho rằng chữ “nghì” ở đây là hàm ý về: Nghĩa, tình nghĩa.
Anh Nguyễn mạnh Quang à, thời xưa, có quan niện cho rằng : “Nam tu, nữ nhũ (男鬚女乳), hàm ý người nam thì có râu [tu (鬚) đúng nghĩa chỉ là “râu cằm”. “Cân quắc tu mi (巾幗鬚眉): Đàn bà có khí phách không thua gì đàn ông.” ] Người nữ thì có vú (nhũ). Là để phân biệt về nhân dạng “giữa” người nam và người nữ. Nhưng “ cái răng, cái tóc là góc con người” nên người xưa nhìn người nam có “râu” thì “cho là” có dáng vẻ uy nghi, oai vệ…. Người nữ có “vú” thì là trông cân đối, xinh đẹp….
Và trong ca dao có câu:
”Đàn ông không râu bất nghì,
Đàn bà không vú lấy gì nuôi con.”
Chữ “nghì” ở đây là chữ “NGHI (儀)” [chữ Hán- thuộc bộ 人 (nhân)] đọc chệch thành “nghì” cho xuôi “vận” của câu văn vần (thể lục bát) mà thôi.
Còn chữ “nghĩa (義)” [chữ Hán - thuộc bộ羊 (dương) ] nếu “muốn” đọc chệch thì phải là: Nghia, nghìa, nghía, nghỉa, nghịa… chứ không thể đọc là “nghì”, khác hẳn âm như thế được.
Chữ “nghi (儀)”, đọc chệch âm là “nghì” này cũng có nhiều nghĩa. Nhưng dựa vào ý câu ca dao trên, thì chữ “nghi (儀)” này, mang nghĩa: (Danh) Dáng vẻ, dung mạo. Như: uy nghi (威儀) dáng vẻ nghiêm trang oai vệ.
Do vậy, nghĩa câu ca dao trên là: (Theo quan niệm người xưa) Người đàn ông không có râu, thì tướng mạo trông không uy nghi. Người đàn bà không có vú thì trông nhan sắc không được đẹp.
Chứ hoàn toàn không mang ý “xác định” về “tính chất (tính tình, bản chất)” của người nào đó “không râu, không vú” là “bất nghĩa”, là “không nuôi được con”!.
Bởi thời xưa, khi dựng vợ gả chồng thường thì rất sớm. “gái thập tam, nam thập lục” là hợp lẽ đạo, lẽ đời rồi.
Vậy, người con gái khi lấy chồng mới “mười ba” hay “mười bốn”…. Thì thử hỏi vú đã thấy rõ đâu mà xét đoán “không vú lấy gì nuôi con”!
Còn, người con trai khoảng mười sáu….thì liệu đã có “lông măng” chưa, mà nói đến râu?
Cùng dựa theo cách “xướng, họa” về ý của các câu ca dao. Thì “vế xướng”: Không có râu thì không uy nghi. Ắt “vế đối” phải hợp ý: Không có vú thì không xinh đẹp. Nên động từ “nuôi con” chỉ để “nhấn mạnh” đến đôi gò “bồng đào” nẩy nở trên ngực, là tâm điểm gợi sáng toàn vẹn các đường cong tuyệt mỹ, khiến vóc dáng người nữ thành “phù thủy” khiêu gợi, lôi cuốn nhấn chìm cặp mắt “ai đó” ngập trong đắm đuối, đam mê. Chứ không chỉ riêng vẻ đẹp thiêng liêng tình mẫu tử!
(Hai vấn đề nêu trên, không đặt vào trường hợp cá biệt hoạ hoằn có được một vài người “râu, vú” phát triển quá sớm.)
Và có một ý, muốn hỏi anh “giáo sư sử học” Nguyễn mạnh Quang, vậy chứ “ba cái râu” như: Râu “dê”, râu “xồm”, râu “quặp”, râu “ba chòm”, râu “cá chốt” ….. thì có ai “dám” nói đó không phải là “tu” nhỉ. Ắt “giáo sư sử học tướng số” Nguyễn mạnh Quang “phải” đi đến kết luận : Những người có râu như thế, cũng đều “hữu nghì” hết cả đấy.
Qua phân tích trên, nên một khi anh Nguyễn mạnh Quang đã viết: “những nguời “vô tu” là hạng người “bất nghì”…”, để “khẳng định” về “bản chất” một nhân vật lịch sử. Thì chính anh Quang đã tự thú: Nguyễn mạnh Quang chỉ là kẻ “hàm hồ, kém cỏi, đần đần…” mà thôi.
Bằng chứng, mời anh Quang xem hai tấm hình:
Hình “Cựu hoàng” Bảo Đại, và dựa theo cách suy diễn của anh Quang,
thì Cựu hoàng Bảo Đại cũng là “nguời “vô tu” là hạng người “bất nghì”…”, phải không, Thưa anh Nguyễn mạnh Quang!
Hình “cáo già” HCM, ắt anh Nguyễn mạnh Quang phải viết: “cáo già” HCM là “nguời “đa tu” là hạng người “hữu nghì”…”, phải không,
Thưa anh Nguyễn mạnh Quang!Và anh Nguyễn mạnh Quang vui lòng soi gương xem, anh là người “đa tu” “hữu nghì” như cáo già HCM, hay “vô tu” “bất nghì” như Cựu hoàng Bảo Đại.
[Nên nhớ, về tướng mạo (hình dạng, dáng vẻ) của con người, ai “để râu (không cạo)” thì mới gọi là “có râu (hữu tu)”. Còn “cạo râu (không thấy râu đâu)” thì vẫn là “vô tu” đấy, anh Nguyễn mạnh Quang có biết điều đó không?]
Do đó, cho ta thấy, câu “không râu bất nghì” chẳng qua, đó là quan niệm của một số người “cổ xưa” ưa chuộng “vẻ đẹp” “bộ râu” thế thôi. Chứ không phải là tố chất nhân văn (chẳng khác gì câu “Nam vô tửu, như kỳ vô phong”).
Một giáo sự “sử học” Nguyễn mạnh Quang mà lại đi coi trọng lời từ mấy câu ca dao “cảm tính” xa xưa (lỗi thời), rồi đem áp dụng vào “thực tế” thời nay, cùng chữ “nghì” là “nghi” thì lại hiểu sai “nghì” là “nghĩa”, thì quả đúng là một Nguyễn mạnh Quang “tri thức không có, thì tránh sao khỏi ý nông cạn”!
Anh Quang à, anh đầu óc chẳng những “nông cạn” mà còn “rỗng tuyếch” và “ma tâm” nữa đấy, khi anh viết tiếp:
“Ngô Đình Diệm có những ác tướng thể hiện ra trên diện mạo như “bạch diện vô tu” và cặp mẳt “trắng bệch, tròng trắng nhiều hơn tròng đen” lại hay “nhìn trộm”..….(Nguyễn mạnh Quang viết- bài kèm dưới)”
Vậy mời anh Nguyễn mạnh Quang xem hình cố TT Diệm.
Với cặp mắt của cố TT Diệm như những hình chụp trên, mà anh Quang lại cho là “cặp mẳt “trắng bệch, tròng trắng nhiều hơn tròng đen”, thì chỉ còn một cách giải thích: Anh Nguyễn mạnh Quang hẳn xuất thân từ một gia đình “ma tâm”. Nên anh không còn cái tâm “bình thường” của con người nữa rồi. Do vậy, mới “ma tâm” viết bừa, để lừa người đọc một cách “trắng trợn” như thế!
Và, đúng là “giáo sư sử học” Nguyễn mạnh Quang đã có cái đầu rỗng tuyếch, nông cạn thái quá thật. Ai “dạy” anh Quang trong dân gian có thành ngữ (quan niệm) “bạnh diện vô tu” là hàm ý “khẳng định” đó là “những con người ác (ác tướng)”!
Anh Nguyễn mạnh Quang à! Xưa nay, chỉ có thành ngữ “Bạch diện thư sinh (白面書生)”. Thành ngữ này phát xuất từ đời nhà Tống. Khi Tống Văn muốn mở mang bờ cõi ra hướng Bắc, thì Trầm Khánh Chi là người giỏi về bài binh bố trận cản ngăn. Tống Văn liền cho hai vị quan văn ra tranh luận để “đả phá” ý kiến với Trầm khánh Chi.
Thấy vậy, Trầm khánh Chi tấu trình rằng:
“ Giữ việc nước, cũng như lo việc nhà vậy. Muốn bàn luận về việc cày ruộng, thì phải bàn luận với nông phu nhiều kinh nghiệm. Muốn bàn luận về việc canh cửi, thì phải bàn luận với người đàn bà dệt vải. Nay Bệ hạ muốn mở chiến tranh với nước khác, mà lại để những người bạch diện thư sinh không một chút kinh nghiệm về quân sự đứng ra bàn luận, thì làm sao mà thành công được.”
Nhưng Tống Văn không nghe, cứ đem quân đánh phương Bắc, thì quả nhiên thất bại.
Từ câu nói đó của Trầm khánh Chi, mà người đời sau, đã dùng làm thành ngữ “Bạch diện thư sinh (白面書生)”, để ám chỉ những người trẻ tuổi học chưa đỗ đạt, hay chỉ có cái học của sách vở, chứ chưa có kinh nghiệm thực tế ở đời.
Đọc xong lời giải thích trên, liệu nhà “giáo sư sử học” Nguyễn mạnh Quang có biết “xấu hổ” khi tự “nặn” ra câu “bạch diện vô tu”, để “khẳng định” đó là “kẻ có tính ác” không nhỉ?
Thực ra, “tội” nặng nhất của anh Nguyễn mạnh Quang vì là “Giáo Sư Sử Học”, mà lại viết nhận dịnh về một nhân vật lịch sử bằng khoa “nhận dạng” một cách hết sức lớ ngớ như thế. Chứng tỏ, anh Nguyễn mạnh Quang chưa đọc “Sử Ký Tư Mã Thiên”, hoặc có đọc, nhưng dạng “trí độn” như anh Quang làm sao tiếp nhận được “tư chất” viết “Sử” kinh điển của nhàTư Mã!
Trong “Sử Ký Tư Mã Thiên (史記司馬遷), khi viết về Thái Trạch (蔡澤), Tư mã Thiên đã mượn ngay nhà “tướng số” Đường Cử (唐舉) để châm chọc về khoa “nhân dạng” như sau (nguyên văn bằng chữ Hán):
“ 蔡澤者,燕人也。游學干諸侯小大甚至,不遇。而從唐舉相,曰:「吾聞先生相李兌,曰『百日之內持國秉』,有之乎?」
曰:「有之。」
曰:「若臣者何如?」
唐舉孰視而笑曰:
「先生曷鼻,巨肩,魋顏,蹙齃,膝攣。吾聞聖人不相,殆先生乎?」
蔡澤知唐舉戲之,乃曰:
「富貴吾所自有,吾所不知者壽也,願聞之。」唐舉曰:「先生之壽,從今以往者四十三歲。」
蔡澤笑謝而去,謂其御者曰:「吾持粱刺齒肥,躍馬疾驅,懷黃金之印,結紫綬於要,揖讓人主之前,食肉富貴,四十三年足矣。」
……………………………………….(摘 范睢蔡澤列傳) ”
Lời dịch của Nhữ Thành:
“Thái Trạch là người nước Yên, đi du học, xin làm quan ở các nước lớn, lại đến nước nhỏ chẳng được ai dùng, bèn đến nhờ Đường Cử xem tướng. Thái Trạch nói:
- Tôi nghe tiên sinh xem tướng cho Lý Đoái, nói: "Nội trong năm ngày sẽ cầm quyền cả nước", điều đó có không?
- Có
- Như tôi thế nào?
Đường Cử nhìn chăm chú rồi cười mà nói:
- Tiên sinh mũi hếch, vai lồi, mặt to , sống mũi tẹt, đầu gối cong. Tôi nghe nói "thánh nhân không thể lấy chuyện tướng mạo mà nói được"(*), có lẽ tiên sinh là người như thế chăng?
Thái Trạch biết Đường Cử trêu mình, bèn nói:
- Việc giàu sang thì tôi đã có sẵn rồi, chỉ chưa biết có sống lâu hay không. Tôi muốn biết điều đó.
Đường Cử nói:
- Tiên sinh thọ từ giờ trở đi là 43 năm.
Thái Trạch cười từ giã ra đi, bảo người đánh xe:
- Ta ăn gạo ngon, thịt béo, ruổi ngựa đi nhanh, mang ấn vàng, lưng buộc dây ấn màu tía, vái chào trước mặt nhà vua, giàu sang thì bốn mươi ba năm cũng đủ.
…………………………….. (trích Phạm Thư, Thái Trạch liệt truyện)”
(*)Toàn là những nét tầm thường, chẳng có cái gì đáng chú ý, thế mà muốn tự ví mình là Lý Đoái, cho nên Đường Cử gọi đùa là thánh nhân.
Qua đó, cho thấy “tướng mạo” Thái Trạch quá thường, hết sức tầm thường, nhưng nào có chi phối (ảnh hưởng) hay khẳng định được rằng: Sau đó Thái Trạch lại làm đến chức “Thừa Tướng” của nước Tần đấy.
Vậy, khi “nặn” ra thành ngữ về “khoa tướng mạo” là “bạch diện vô tu” để “khẳng định” tướng mạo của ông Diệm là kẻ “ác”, thì rõ chỉ là ý tưởng “nông cạn”, “nhảm nhí”; là bằng chứng cụ thể về “một” Nguyễn mạnh Quang “tri thức không có, thì tránh sao khỏi ý nông cạn” phải không, thưa “giáo sư sử học “tướng số”” Nguyễn mạnh Quang!
Chính vì “tri thức không có” nên anh Nguyễn mạnh Quang lại “tuồn” ra hàng loạt “ý nông cạn” tiếp:
“….Tất nhiên là những ác tính này sẽ biến thành hành động vào những khi có hoàn cảnh hay cơ hội, đặc biệt nhất là khi có quyền lực trong tay. Diệm đã từng hành xử quyền hành trong những năm làm quan với quan thày Pháp và Vatican trong những năm 1922-1933 và hơn chín năm được Liên Minh Mỹ - Vatican cho nắm giữ chức vụ Tổng Thống ở miền Nam Việt Nam. Với một quá trình nắm giữ quyền lực trong tay như vậy, tất nhiền, những ác tính Da-tô và ác tính bẩm sinh tiềm tàng trong con người của ông ta đã có hoàn cảnh thuận lợi và những phương tiện để biến thành không biết bao nhiêu tôi ác chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nam….. (Nguyễn mạnh Quang viết- bài kèm dưới)”
Anh Nguyễn mạnh Quang à! Nếu đánh giá cho đúng thì trích đoạn (văn) nêu trên của anh viết ra như thế, nói “ý nông cạn” là tế nhị thôi. Chứ nói thật, viết như thế đúng là “loại hàm hồ vô học” đấy!
Lẽ dĩ nhiên, anh cũng được ăn học đành hoàng mà, và đã là “giáo sư sử học” mà, vả lại thêm tài “sử học tướng số” nữa mà, đúng như vậy phải không, thưa anh Nguyễn mạnh Quang! Nên, một khi “buộc phải” đánh giá anh là “loại hàm hồ vô học” là “hàm ý” anh Nguyễn mạnh Quang đã viết lách giông hệt như “kẻ không được đi học” đấy thôi. Hay nói theo cách chân phương: Anh Nguyễn mạnh Quang chẳng hiểu biết gì cả, viết “ngu” lắm đó!
Chỉ vì Cố TT Diệm là người công giáo (Thiên chúa giáo), thế là anh Quang cứ nhắm mắt viết bừa “làm quan với quan thày Pháp và Vatican”, “Liên Minh Mỹ - Vatican cho nắm giữ chức vụ Tổng Thống”.
Vậy:
- Ngày 12 tháng 7 năm 1933, ông Ngô đình Diệm đã từ chức Thượng Thư Bộ Lại dưới triều Bảo Đại, thế có nghĩa là “Vatican” cũng đồng ý cho ông Diệm từ chức phải không, thưa “giáo sư sử học tướng số” Nguyễn mạnh Quang?
- Thời kỳ 1934-1944, ông Diệm tham gia thành lập và lãnh đạo đảng Đại Việt Phục Hưng chống Pháp, thế có nghĩa là ông Diệm đã chống cả Vatican phải không, thưa “giáo sư sử học tướng số” Nguyễn mạnh Quang?
- Ngày 2 tháng 11 năm 1963, cố TT Diệm đã bị hạ sát bởi Mỹ (CIA) thông qua (dùng bàn tay) nhóm tướng làm cuộc đảo chính. Vậy ““Liên Minh Mỹ - Vatican cho nắm giữ chức vụ Tổng Thống”, có nghĩa “Liên Minh Mỹ -Vatican đồng ý giết” phải không, thưa “giáo sư sử học tướng số” Nguyễn mạnh Quang?
……………………………..
Thêm vài câu hỏi như vậy, đủ để khẳng định anh Nguyễn mạnh Quang hoàn toàn không tri thức, mù tịt và ngớ ngẩn, đâm ra cứ viết bừa … để lừa người đọc thế đấy.
Nhưng nào đâu đã hết, chẳng những thế anh “giáo sư sử học tướng số” Nguyễn mạnh Quang còn “dốt chữ” nữa, thật là tại hại!
Hỏi thật anh Quang, “thằng nào” “dạy” anh là Da tô có ác tính (ác tính Da-tô) và (con người nào đó) bẩm sinh đã “thể hiện” ác tính (ác tính bẩm sinh)?
ÁC TÍNH BẨM SINH (?)
Trong Tam Tự Kinh (三字經)mở đầu là câu: “Nhân chi sơ, tính bản thiện (人之初, 性本善 )”, và đó cũng là lời của Mạnh Tử (孟子). Câu này hàm nghĩa, con người mới sinh ra (hài nhi- sơ sinh), không biết gì (không tính toán, mưu toan….).nên khởi đầu (sơ sinh) đó (được coi) là có “bản tính thiện”! (dựa vào biện chứng)
Có một lối giải thích khác nữa: Từ sơ sinh (vừa lọt lòng mẹ) con người đã sẵn “gốc căn bản” là có tính (tâm, bản tính, chỉ biết)” thiện! (theo định kiến)
Chính vì cách giải thích theo định kiến trên, nên về sau Tuân Tử (荀子) có lời ngược lại: “Nhân chi sơ, tính bản ác (人之初, 性本惡 )”. Lời này được giải thích: Ngay từ sơ sinh, con người đã có sẵn (nằm ở trong, tiềm tàng) “bản tính ác” (nữa). Người đời cho rằng, lời Tuân Tử nhằm ngăn ngừa, đề phòng về “cái ác” sẽ phát sinh (không khó, dễ dàng, không cần chỉ vẽ…) từ con người..[Để tránh cho rằng “tính bản thiện” (lời Mạnh Tử) mà thờ ơ, không giáo dục uốn nắn con người.]
(Mạnh Tử sinh năm 372 trước CN, sinh trướcTuân Tử 59 năm. Và chết năm 289 trước CN, khi đó Tuân Tử mới 24 tuổi.)
Nhưng đó là ý từ các bậc hiền triết. Còn dựa theo suy luận thông thường, “nhân chi sơ (hài nhi)” chỉ là tờ giấy trắng (mới đẻ thì biết gì). Nên “bản thiện” hay “bản ác” đều không có (sẵn). Nhưng có bản năng sinh tồn, mà trong đó sức thích nghi và sự phát triển (về mọi mặt) của con người thì vô hạn.
Và quá trình khôn lớn (phát triển) của con người còn tùy thuộc vào gia đình, hoàn cảnh, môi trường, nền giáo dục…..mà có được bản tính tốt (thiện), hay xấu (ác) khác nhau. Người có “tính tốt” ắt sinh “tâm thiện”, người có “tính xấu” tránh sao khỏi không “ác tâm”!
Qua trình bày nêu trên khá tỉ mỉ, liệu “giáo sư sử học tướng số” Nguyễn mạnh Quang có hiểu gì không?
Có hiểu để phân biệt được rằng: “Nhân chi sơ, tính bản ác” lời của Tuân Tử, với “Ác tính bẩm sinh” lời của anh (“giáo sư sử học tướng số” Nguyễn mạnh Quang) là hoàn toàn khác nhau không?
Bởi “Nhân chi sơ, tính bản ác”, nếu chấp nhận “triết thuyết” này của Tuân Tử, thì chính anh “giáo sư sử học tướng số” Nguyễn mạnh Quang cũng có “bản tính ác” từ khi lọt lòng “mẹ”đấy!
Và theo cách anh Quang đã nói về cố TT Diệm, thì anh Quang đã đợi có dịp thì cái ác mới phát triển, nhưng anh Nguyễn mạnh Quang “diện” tầm thường, “bạch diện thư sinh” nên bấy giờ tuy “đã có hoàn cảnh thuận lợi và những phương tiện” nhưng cũng chỉ thể hiện được “ÁC TÂM VIẾT LÁO, BỊA ĐẶT HÀM HỒ” chăng ?
Anh “Giáo sư sử học tướng số hàm hồ” Nguyễn mạnh Quang có hiểu hai chữ “bẩm sinh” nghĩa là gì không?
“bẩm sinh” là có nghĩa “tự có sẵn” và “tự phát triển” ngay từ khi lọt lòng mẹ (hoàn toàn không bị ảnh hưởng, chi phối bởi gia đình, hoàn cảnh, môi trường, nền giáo dục ….), thí dụ như: Có tật bẩm sinh!
Do đó, người có “Ác tính bẩm sinh” phải “thể hiện”, “phát triển” tính tàn ác” ngay từ tấm bé! Chứ không phải đợi “có hoàn cảnh thuận lợi và những phương tiện để biến thành không biết bao nhiêu tôi ác (lời Nguyễn mạnh Quang)”, như lối lý luận “dốt chữ” Nguyễn mạnh Quang đâu.
Do vậy, xưa nay chưa từng thấy người nào có “Ác tính bẩm sinh” . Kể cả thời “Nước Yên (khoảng năm 240 trước CN) có người dũng sĩ là Tần vũ Dương, mười ba tuổi, giết người mà không ai dám trừng mắt nhìn….(Sk.TMT)”, mà cũng chưa được coi là có “Ác tính bẩm sinh” .
Thành thử khi anh “giáo sư sử học tướng số” Nguyễn mạnh Quang cho rằng ông Diệm có “Ác tính bẩm sinh” thì quả thật: Lộ rõ một Nguyễn mạnh Quang “dốt chữ” chỉ được cái “ăn càn, nói bửa hệt như loại vô học…..” là không ai bì. Hay dưa theo cách nói của anh Quang về “….bẩm sinh” thì có thể gọi anh Nguyễn mạnh Quang là “hàm hồ bẩm sinh”. Mà những gì “đặc biết khác người” lộ ra từ khi mới sinh, thì dân gian thường coi là “thiên phú”, hay “năng khiếu” …đó.
Nay, theo cách dân gian “gọi” ấy, thì cũng “đành …. bấm bụng” mà “thừa nhận” anh Giáo Sư Nguyễn mạnh Quang, nào là có “năng khiếu” về “sử học tướng số”, rối lại được “thiên phú” “hàm hồ bẩm sinh” nữa…. đúng là “thày chạy”!
ÁC TÍNH DA TÔ (?)
Mời anh Quang đọc lại lời anh đã viết: “những ác tính Da-tô và ác tính bẩm sinh tiềm tàng trong con người của ông ta (Ngô đình Diệm)….(Nguyễn mạnh Quang viết)”.
Hai khía cạnh “vô học (như phường vô học)” của anh Quang khi dùng từ “Da-tô”:
Điểm 1: “Da-tô” là âm Hán (Nho) của hai chữ Hán: 耶穌 . Nhưng thực tế tiếng Việt đã lấy hai chữ 耶穌 (da-tô) này từ âm ngữ “ bình âm” của tiếng Trung Hoa .
Người Trung Hoa đã bình âm (phiên âm) chữ “Jesus” bằng âm ngữ “yé sũ” theo giọng “Quan thoại” [Nay còn gọi là giọng “Bắc kinh”- các đài truyền hình và truyền thanh chính (trung ương) cũng như các chính khách Đài Loan, Trung Cộng khi phát biểu đều dùng “giọng (âm)” này] và viết bằng chữ Hoa (chữ Hán, chữ tượng hình) là 耶穌(yé sũ). Nhưng cũng hai chữ Hoa 耶穌 (yé sũ) này, thì âm Hán (mà tiếng Việt sử dụng) lại đọc là “Da-tô(耶穌)”
Do đó, câu văn của anh Quang nếu dùng chữ chính (không dùng “giọng quan thoại” bình âm) thì sẽ là: “những ác tính “Jesus” và ác tính bẩm sinh tiềm tàng trong con người của ông ta (Ngô đình Diệm)….(Nguyễn mạnh Quang viết)”
Vậy “những ác tính “Jesus””! Đọc xong, nhà “giáo sư sử học tướng số hàm hồ” Nguyễn mạnh Quang đã thấy tự chứng minh mình (Quang) là “phường vô học” rồi phải không!
Điểm 2: Một “giáo sư sử học” như anh. Bất luận thế nào, viết để trình bày quan điểm, nhận định…. của mình về một khía cạnh, một nhân vật nào đó…. Thì buộc phải dùng ngôn từ cập nhật, hợp không gian và thời gian….. mà khi nhân vật đó còn sống, các ngôn từ đó đã và đang dùng phổ cập. Từ thời cố TT Diệm cho đến nay…thì những từ ngữ về tôn giáo như: Công Giáo, Thiên chúa Giáo, Đạo Tin Lành, Phật Giáo, Hồi Giáo, Đạo Hòa Hảo, Đạo Cao Đài…đã là ngôn từ bình thường, thông dụng, và thường xuyên dùng trên các hệ thống truyền thanh, truyền hình, báo chí, cứu trợ….. Nay, anh vẫn cố tình dùng từ ngữ “Da-tô”, thì chỉ lộ rõ ra tư cách một Nguyễn mạnh Quang như “phường vô học” đấy thôi!
Anh Nguyễn mạnh Quang à, sở dĩ đôi dòng giảng giải cho anh như trên, để minh chứng anh chỉ là kẻ dốt chữ, không có một chút tư cách gì “tỏ ra” là một “giáo sư”. Mà hoàn toàn anh để lộ nguyên hình một kẻ “có học cũng như không (loại vô học)”!
Chứ chẳng ai lạ gì, khi anh viết “ác tính Da-tô”, là ám chỉ về Đạo Công Giáo, tôn giáo mà cố TT Diệm đã theo.
Vậy, để phổ cập ngôn từ. Tôi viết lại cho phù hợp với ngôn ngữ hiện hành, theo ý của anh viết là: “ác tính Công-giáo”.
Có nghĩa anh “giáo sư sử học tướng số hàm hồ” Nguyễn mạnh Quang muốn nói về “một ác tính có sẵn của một tôn giáo (Công-giáo)”, mà bất cứ ai theo đạo (tôn giáo) đó, lập tức bị nhiễm cái “ác tính” đó.
Như vậy:
Thứ nhất: Tín ngưỡng (tôn giáo, đạo) đó phải là một thực thể, nên mới có tính lây nhiễm, di truyền.
Thứ hai: Tôn giáo (đạo, tín ngưỡng) đó, đã có “giáo lý” dạy con người “theo” cái “ác”.
Vậy, trước hết, anh Nguyễn mạnh Quang, vui lòng chứng minh “tín ngưỡng (công giáo)” là một thực thề.
Thứ đến, anh Quang vui lòng chứng minh “giáo lý” Công giáo đã “dạy” giáo dân “theo” cái “ác”.
Nếu không chứng minh được, thì tự anh “giáo sư sử học tướng số hàm hồ” Nguyễn mạnh Quang đã “lộ rõ chân tướng”, chỉ là “phường vô học, nói càn” đấy thôi!
Tạm thời vậy, giờ mời anh “dốt chữ”, “vô học” Nguyễn mạnh Quang coi một số hình ảnh:
Một nhà sư đứng, cầm một “can” xăng lớn, đang tưới xăng ướt đẵm lên thân thể một nhà sư ngồi hai mắt nhắm lại,
tay buông thõng, “tịnh khẩu” (không chắp tay niệm phật).
Sau đó, nhà sư tưới xăng đã châm lửa vào một ngòi xăng tưới ra xa ở đất, và lửa bùng lên thành một khối lửa “khổng lồ”, đốt cháy “sèo sèo” thân thể nhà sư bị tưới xăng. Nhưng nhà sư “đ㔓vô cảm” trước cái nóng cháy nứt da thịt, vẫn một tư thế, giống như từ đầu, ngồi “bất động” (không giãy giụa), tay buông thõng “tịnh khẩu”.
Tư thế ngồi của nhà sư bị đốt khi lửa cháy gần tàn… vẫn “y chang” như khi khi mới bị “tưới xăng” để chuẩn bị “đốt cháy” vậy!Qua vài tấm hình nêu trên, anh “giáo sư sử học tướng số” Nguyễn mạnh Quang thấy được gì để viết “sử”, hay để giảng dạy “sử” cho học sinh?
Chắc hẳn phải là:
Về khách quan – Đó là cảnh một nhà sư đã công khai “thanh thiên bạch nhật” tưới xăng đốt cháy để giết chết một nhà sư khác, với sự đồng tình ủng hộ của đám đông các nhà sư đứng vây quanh, trông chẳng khác chi cảnh “tế sống người” của các bộ lạc “mọi rợ” thời hoang sơ, trung cổ… Sao mà các nhà sư lại “tàn ác” thế!
Dùng từ ngữ kiểu anh Quang để kết luận: Hẳn đó chính là do “ác tính Phật giáo” mà ra đấy?
Về Phật pháp - Đạo Phật dạy: Chúng tăng (các nhà sư) không được phạm “sát giới (sát sinh)”…. cho dù là “gia cầm”, “gia súc”… cũng không được. Nhưng các nhà sư là những người dạy đạo pháp…. thì lại “công khai”, “tự do” “sát nhân” như hình ảnh nêu trên. Sao các nhà sư lại đi làm điều “phản đạo”như thế!
Dùng từ ngữ kiểu anh Quang để kết luận: Hẳn đó chính là do “phản tính Phật giáo” mà ra đấy?
Về biện chứng - Nếu nhà sư tưới xăng (có nguồn tin tên là Nguyễn công Hoan, nhưng theo Pháp Lạc và Nguyễn Kha, thì người tưới xăng lên đầu và thân thể Ngài Quảng Đức chính là Đại đức Thích Chơn Ngữ, thế danh Huỳnh Văn Hải ) không mặc áo “cà sa”, có nghĩa là một thường dân. Thì chắc anh Nguyễn công Hoan (hoặc Huỳnh văn Hải) không dám (đủ can đảm) đứng tưới xăng lên thân thể một vị sư ngồi “bất động” “tịnh khẩu” (Hoà thượng Thích quảng Đức) đâu. Điều này được khẳng định 100%.
Nhưng khi anh Hoan (hoặc Hải) mặc áo “cà sa” vào rồi, thành nhà sư Nguyễn công Hoan (hoặc Đại đức Thích chơn Ngữ), thì lập tức trở nên “dã man, tàn nhẫn”, “mặt lạnh như tiền”, bình tĩnh, thong thả tưới xăng lên thân thể Hoà thượng Thích quảng Đức, rồi đốt,
Chứng tỏ, chiếc “áo cà sa” đã tạo cho anh Hoan (hoặc Hải) thành có tính “man rợ” thế đấy!
Dùng từ ngữ kiểu anh Quang để kết luận: Hẳn đó chính là do “rợ tính Phật giáo” mà ra đấy?
Về sự kiện – Qua hình ảnh nêu trên, sự thật hiển nhiên không cách chi chối cãi được. Hoà Thượng Thích quảng Đức đã bị nhà sư Nguyễn công Hoan (hoặc Đại đức Thích chơn Ngữ) tưới xăng đốt cháy cho chết, giữa không biết bao nhiêu là các nhà sư cùng chứng kiến. Thế mà ngay sau đó các nhà sư (Phật giáo) đã cho phổ biến rộng khắp là “Hoà thuợng Thích quảng Đức đã tự thiêu”. Sao các nhà sư lại ăn nói “bịp bợm” thế!
Dùng từ ngữ kiểu anh Quang để kết luận: Hẳn đó chính là do “bịp tính Phật giáo” mà ra đấy?
Về khoa học – Hoà thượng Thích quảng Đức khi bị tưới xăng lên người, ướt đẵm toàn thân và lênh láng xung quang, nhưng vẫn ngồi bất động, không chút “rùng mình”, “khó chịu” cho thấy cảm giác bị “ngộp thở” hơi xăng. Chứng tỏ hệ thần kinh “khứu giác” đã bị “liệt”!
Khi lửa bén đến thân, làm nóng thân thể bất chợt, vậy mà Hoà thượng Thích quảng Đức cũng không một chút gì động đậy theo phản ứng tự nhiên của con người. Chứng tỏ hệ thần kinh “phản xạ” đã bị liệt!
Rồi cả khi lửa đã cháy toàn thân, Hoà thượng Thích quảng Đức không chút biểu hiện động đây gì cho cảm nhận là đã bị đau đớn khi lửa đốt. Chứng tỏ hệ thần kinh “cảm giác” đã bị liệt!
…………………………..
Người mà bị liệt “ba hệ thần kinh” như thế, thì cũng coi như đã “chết lâm sàng (liệt não)” rồi. Bằng chứng cụ thể là từ khởi đầu “bị” tưới xăng lên người cho đến khi lửa cháy gần tàn, vẫn một tư thế ngồi “vô tri giác”, không thay đổi! Chứng tỏ, Hoà thượng Thích quảng Đức đã “chết lâm sàng” đích thực rồi, vậy mà các nhà sư lại còn “nhẫn tâm” đem đi đốt cho “chết sớm” hơn. Sao các nhà sư lại “hiểm ác” thế!
Dùng từ ngữ kiểu anh Quang để kết luận: Hẳn đó chính là do “ hiểm tính Phật giáo” mà ra đấy?
Về (thuyết) luân hồi: Hoà thượng Thích quảng Đức đã bị “chết lâm sàng” rồi, thế mà vẫn còn bị đem đi “hành hình” “đốt” cho chết sớm một cách “khủng khiếp, dã man, tàn bạo, vô nhân đạo” như thế, thì hẳn “tiền kiếp (kiếp trước)” của Hoà thuợng Thích quảng Đức phải là một tên “đại gian, đại ác….”, thì “kiếp này” mới bị “nghiệp báo” vậy chăng!
Dùng từ ngữ kiểu anh Quang để kết luận: Hẳn đó chính là do “nghiệp tính Phật giáo” mà ra đấy?
…………………………
Qua những phân tích nêu trên, liệu anh “giáosư sử học tướng số hàm hồ” Nguyễn mạnh Quang đã nhận chân ra “cái” NGU to tướng… từ lối viết lách “hàm hồ, thô lậu” không tri thức” của anh chưa!
“Đạo là đường, đường chính đường ngay, làm người phải tìm đường mà học đạo.
Tu là sửa, sửa tâm sửa tánh, ở đời nên gắng sửa ấy là tu!”
Là dạy cho con người biết rằng: Tôn giáo (đạo) cũng như là con đường, nhưng phải biết hướng tâm mình chọn (theo) đường ngay, nẻo chính.. Chứ không phải cứ đi trên (theo) đường (đạo, tôn giáo) là đắc đạo (tự có đường ngay, nẻo chính sẵn) đâu. Đó mới đúng ý thức của người (cái tâm) theo (học) đạo! Do vậy, cái “xấu” vẫn tự (từ cái tâm) con người theo “đạo”, vì không biết “hướng tâm (đi)” theo cái “thiện (đường chính, đường ngay)”. Chứ hoàn toàn không phải “đạo (tôn giáo)” tạo ra cái “xấu” khiến tín đồ, giáo dân mắc phạm (tiêm nhiễm).
Do đó, không hề có “ÁC TÍNH” từ bất cứ một tôn giáo (Công giáo, Phật giáo, Hồi giáo…..) nào cả!
Mọi cái “ác” mà các tín hữu, tín đồ, các đấng bậc tu trì (sư, linh mục….) mắc phải, gây ra vẫn là tại “cái ma tâm xấu xa” của những con người ấy, với nhiều lý do, trong đó có cả lý do vì họ không hiểu đúng… , hoặc giả họ biết là sai (ác) nhưng vì âm mưu muốn dành “thắng” sự gì đó, nên họ vẫn cứ “hành động” “ác”…. Kể cả, đôi khi họ dùng (lợi dụng) chính vỏ bọc “tôn giáo” đó, để hành động ( tỷ như vụ đốt Hoà thượng Thích quảng Đức nêu trên), thì là từ “ma tâm của con người (Nguyễn công Hoan….)” đó. Chứ rõ mười mươi không phải từ ĐẠO PHÁP CỦA ĐẠO PHẬT.
TÔN GIÁO (tín ngưỡng) KHÔNG PHẢI LÀ MỘT THỰC THỂ! TÍN NGƯỠNG (tôn giáo) CHỈ LÀ NIÊM TIN CỦA CON NGƯỜI VÀO MỘT SỰ THIÊNG LIÊNG (Siêu nhiên, không chứng minh cụ thể được).
Đã gọi là “thiêng liêng (siêu nhiên)”, măc nhìên là không có gốc (cụ thể), nên tùy thuộc vào “con người” có ý niệm “mạc khải” hướng “thiêng liêng (tôn giáo)” nào, thì lập thành “tôn giáo (tín ngưỡng)” theo ý niệm “thiêng liêng (Chúa, Phật, Thánh Ala…..)” đó. Đó là lý do, có các tôn giáo khác nhau là vì vậy!
[Nên, bất cứ “tín ngưỡng (tôn giáo, đạo)” nào, chứng minh được “đạo, tôn giáo (tín ngưỡng)”đó là một thức thể, thì mọi người trên thế gian này sẽ theo “đạo (tôn giáo)” đó hết ngay lập tức.]
Do vậy, như đã trình bày trên, “tôn giáo” là phần “thiêng liêng (siêu nhiên)”, đã “thìêng liêng” thì không có “tính (tính tình)”. Đã không có “tính”, thì làm sao có hệ lụy (ác) từ tính (ác) được!
Một khi anh Nguyễn mạnh Quang viết khẳng định “ác tính Da-tô” như đã nêu trên. Là lộ rõ một “giáo sư sử học tướng số hàm hồ” Nguyễn mạnh Quang không “tri thức”, “dốt chữ”, lại có “tính đê tiện, thấp hèn” từ cái “tâm nham hiểm” chỉ muốn gây chia rẽ, hằn thù đạo Công Giáo mãi không ngừng.
Tự “bịa đặt” ra cho sự thiêng liêng của một tôn giáo là có “tính (tình)” “ác (ác tính Da-tô)”, thì không cách chi chối cãi, Nguyễn mạnh Quang chính là một kẻ “đê tiện, nham hiểm, ác đức” khôn cùng. Do vậy, “hệ lụy” phản hồi phải được “đóng dấu” vào mặt cho kẻ “bịa đặt” là:
GIÁO SƯ “ÁC TÍNH” NGUYỄN MẠNH QUANG!
Người xưa có câu:
“No mất ngon, giần mất khôn!”
“Ác” là đầu mối của “giận dữ”, “giận” làm mất “khôn”, không “khôn ” ắt “trí mờ”. đã “trí mờ” mà còn “đòi” “nói năng, viết lách”, thì chắc chắn là “viết bậy”, “nói láo”!
Mời anh giáo sư “ác tính” Nguyễn mạnh Quang xem lại một đoạn anh đã “viết bậy, nói láo” :
“1.- Khi được bổ nhậm làm tri phủ ở miền Trung, ông Diệm đã có những hành động tàn ngược và dã man hết sức là kinh tởm. Sự kiện này được cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau:
“Khi ông làm tri phủ Hòa Đa đã nổi tiếng là tay sai đắc lực của Pháp, lùng bắt và tra tấn các nhà cách mạng rất dã man bằng cách xông lửa nến (đèn cày) dưới ghế ngồi. Ông cho trói chặt người bị lấy khẩu cung vào ghế ngồi, mặt ghế có khoét lỗ ở ngay hậu môn chỗ ngồi, bên dưới đốt ngọn đèn cầy cho lửa xông lên, dần ruột gan, tim phổi người nọ (nạn nhân) bị sấy lửa, khô dần đi, không chịu nổi, dù có khai để chấm dứt cực hình nhưng hậu quả về sau không lường được. Lối tra tấn dã man này, ngay với các bót giam của Pháp, như bót Catinat, cũng chưa dám dùng.”[i]….(Nguyễn mạnh Quang viết- bài kèm dưới)”
Viết lại lời người khác cùng với lời nhân xét thêm: “Khi được bổ nhậm làm tri phủ ở miền Trung, ông Diệm đã có những hành động tàn ngược và dã man hết sức là kinh tởm….(Nguyễn mạnh Quang viết)”, là anh Giáo sư “ác tính” Nguyễn mạnh Quang cho rằng lời của “cụ” An Khê Nguyễn Bính Thinh là “đúng sự thật”.
Tôi hỏi thật anh Quang, anh không cảm thấy “xấu hổ”, vì đã làm uổng công “cha mẹ” cho anh (Quang) ăn học sao!
Anh đã học về “cơ thể con người” rồi, sao vẫn “dốt” và “ngu” thế, mở mắt cho to mà đọc mấy dòng chữ tóm tắt về hậu môn trong cơ thể con người
“Khoảng 70% trọng lượng cơ thể của con người là nước (ở trẻ em lượng nước so với trọng lượng cơ thể còn nhiều hơn).
Hậu môn được cấu tạo bằng hai loại cơ vòng: Cơ vòng trong và cơ vòng phía ngoài. Những cơ vòng này quấn quanh hậu môn và trực tràng. Cơ trong là một phần của thành ruột kết và là loại cơ vô cảm. Cơ ngoài nằm dưới lớp bì hậu môn, có nhiều sợi thần kinh cảm giác và vận động, giúp giữ chặt phân và hơi có trong trực tràng. Nó cũng sẽ tự động co lại khi có vật lạ từ bên ngoài xâm nhập hậu môn, phản xạ này nằm ngoài khả năng kiểm soát của ý chí, và lỗ hậu môn chỉ mở ra khi có một áp lực đè ấn liên tục…..”
Vậy,
Điểm 1:- Cơ vòng hâu môn đã luôn luôn co kín để giữ phân, đến khi thấy lửa xông lên thì phản xạ tự nhiên khiến cơ vòng hậu môn lại càng co lại kín chặt hơn, làm sao lửa đi lên ruột được.
Điểm 2:- Ruột là phần cơ mềm luôn đầy nước bởi thức ăn và phân ở hậu môn. Cho dù “không tưởng” là lửa qua được phần hậu môn, thì cũng không thể nào “hơi nóng” qua được hết phần ruột già, chứ nói chi đến ruột non.
Điểm 3:- Lửa từ ngọn đèn cầy (ngọn nến) qua “cửa hậu môn”, mà dần xấy khô được ruột gan tim phổi của cơ thể con người (nạn nhân), có đến 70% là nước. thì cần đén bao nhiêu ngọn đèn cầy ? Và thời gian là mấy tháng, năm… liên tục?
Điểm 4:- Một thí dụ cụ thể về Hòa thượng Thích quảng Đức bị dốt cháy “đen chũi” như thế đấy, thử mổ bụng ra xem: Từ hậu môn cho đến tim gan phèo phổi, “liệu” có “khô” được tí nào không?
“Thằng” viết “cụ” An Khê Nguyễn Bính Thinh đã viết “láo” rổi, đến “thằng” “cụ” Lê Hữu Dản “dốt” chẳng biết gì, đem đưa vào sách. Xong đến anh, một “thằng” “Giáo sư sử học”, có nghĩa là “thành phần trí thức” đấy! Ấy vậy, đọc điều viết “vô lý, láo toét” như thế mà tin được, thì chỉ còn một cách giải thích:
Phải chăng, anh “Giáo sư sử học” Nguyễn mạnh Quang là “thành phần” tiêu biểu về câu nói của Mao trạch Đông: Thằng trí thức (Nguyễn mạnh Qung) không bằng cục phân!
(còn tiếp)
Trân trọng
BN 587
From: Hoa Binh tyvn1975@yahoo.com:worte:
Bài viết của thằng vẹm Nguyễn mạnh quang :NGÔ ĐÌNH DIỆM: CON NGƯỜI VÀ TỘI ÁC
Giao su su hoc Nguyen Manh Quang, USA
IX.- MỘT SỐ NHỮNG VIỆC LÀM TÀN NGƯỢC CỦA VIET GIAN NGO DINH DIỆM
Thông thường, người Việt Nam đều biết rằng:
1.- Đàn ông mà có cặp mắt “trắng bệch” là hạng người gian tham và ác độc, và những nguời “vô tu” là hạng người “bất nghì”,
2.- Bất kỳ người nào có cặp mắt hay “nhìn trộm”, “tròng trắng nhiều hơn tròng đen”, “láo liên” hay “tròng đen chạy long xòng xọc trong tròng trắng” hoặc mắt “chớp chớp” khi nói chuyện với một người nào, thì nhiên là người đó là quân lưu manh gian ác, tàn ngược và có bản chất phản trắc.
Ngô Đình Diệm có những ác tướng thể hiện ra trên diện mạo như “bạch diện vô tu” và cặp mẳt “trắng bệch, tròng trắng nhiều hơn tròng đen” lại hay “nhìn trộm”. Tất nhiên là những ác tính này sẽ biến thành hành động vào những khi có hoàn cảnh hay cơ hội, đặc biệt nhất là khi có quyền lực trong tay. Diệm đã từng hành xử quyền hành trong những năm làm quan với quan thày Pháp và Vatican trong những năm 1922-1933 và hơn chín năm được Liên Minh Mỹ - Vatican cho nắm giữ chức vụ Tổng Thống ở miền Nam Việt Nam. Với một quá trình nắm giữ quyền lực trong tay như vậy, tất nhiền, những ác tính Da-tô và ác tính bẩm sinh tiềm tàng trong con người của ông ta đã có hoàn cảnh thuận lợi và những phương tiện để biến thành không biết bao nhiêu tôi ác chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nam.
Căn cứ vào sách sử, ông Ngô Đình Diệm đã phạm tội ác chống lại tổ quốc, chống lại dân tộc Việt Nam bằng những hành động “cõng rắn cắn gà nhà” và bạo ngược đối với nhân dân khi làm quan trong chính quyền bảo hộ Pháp - Vatican trong những năm 1922-1933 và khi được Hoa Kỳ và Vatican cho nắm giữ các chức vụ thủ tướng và tổng thống ở miền Nam trong thời gian 1954-1963 ở miền Nam. Dưới đây là một số bằng chứng về những hành động tội ác của ông ta:
1.- Khi được bổ nhậm làm tri phủ ở miền Trung, ông Diệm đã có những hành động tàn ngược và dã man hết sức là kinh tởm. Sự kiện này được cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau:
“Khi ông làm tri phủ Hòa Đa đã nổi tiếng là tay sai đắc lực của Pháp, lùng bắt và tra tấn các nhà cách mạng rất dã man bằng cách xông lửa nến (đèn cày) dưới ghế ngồi. Ông cho trói chặt người bị lấy khẩu cung vào ghế ngồi, mặt ghế có khoét lỗ ở ngay hậu môn chỗ ngồi, bên dưới đốt ngọn đèn cầy cho lửa xông lên, dần ruột gan, tim phổi người nọ (nạn nhân) bị sấy lửa, khô dần đi, không chịu nổi, dù có khai để chấm dứt cực hình nhưng hậu quả về sau không lường được. Lối tra tấn dã man này, ngay với các bót giam của Pháp, như bót Catinat, cũng chưa dám dùng.”[i]
2.- Trong thời gian nắm giữ chức vụ thủ tướng và tổng thống ở miền Nam Việt Nam từ ngày 7/7/1954 cho đến 1 giờ trưa ngày 1/11/1963, Diệm đã cho thi hành kế hoạch Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo lực khiến cho hơn 300 ngàn người bị sát hại, cùng với hơn nửa triệu người bị bắt giam và tra tấn một cách hết sức dã man. Vấn đề này đã được người viết trình bầy đầy đủ trong nơi các trang 124-133 trong cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), và sẽ được nói rõ trong mấy chương sách nằm trong Mục XX ở sau.
3.- Ngày 30/11/1961, Diệm đã hí hửng và hồ hởi đồng loã với quân đội Mỹ trong việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:
“Ngày 30/11/1961, Tông Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng Thống Nam Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt. Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở đâu” và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ mãn.”[ii]
Vì thế mà chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt Nam và hậu qủa ghê gớm của chiến dịch này được sách sử ghi nhận như sau:
“Quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.”[iii] .
Việc làm dã man này không biết đã sát hại bao nhiêu trăm ngàn hay hàng triệu nạn nhân, và hậu quả của việc làm này cho đến ngày nay vẫn còn gây hại cho đất đai, cây cối, mù a màng, sinh vật và nhân dân ta trong vùng bị ảnh hưởng. Hiện nay, chính phủ Việt Nam đã và đang kiện đòi chính phủ Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về hậu quả ghê gớm của việc làm tàn ngược và dã man này, nhưng lại bị những người đồng đạo của ông Diệm chống đối cực lực. Sự kiện này càng chứng minh cho chúng ta thấy rằng một khi đã trở thành tín đồ Da-tô thì họ trở thành những phường vong bản, phản dân tộc, mất hết nhân tín và trở thành hạng người “cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.”
Tạm kể ra ba tội ác này cũng đủ cho chúng ta thấy thằng bạo chúa phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm quả thật là hạng người “thiên cổ tội nhân” đối với dân tộc Việt Nam ta, và đúng là một trong số 100 tên bạo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại.
X.- NHỮNG THÀNH TÍCH PHẢN TRẮC CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM
Trong tiểu mục này, người viết chỉ nói đến ác tính phản trắc của Diệm mà thôi. Ác tính này có thể là theo truyền thống hay dòng máu di truyền của gia đình họ Ngô. Do đó, chúng ta cũng nên tìm hiểu xem gia đình Diệm có đặc tính phản trắc này hay không, rồi sau đó sẽ nói đến thành tích phản trắc của chính cá nhân Diệm.
A.- Về truyền thống gia đình của Diệm, theo tác giả Giuse Phạm Hữu Tạo, chủ bút mang lưới dongduongthoibao.net và cũng là tác giả bài viết Quốc Kỳ Việt Nam đăng trong dongduongthoibao.net,tháng 12/2005, dòng họ Ngô Đình khởi đầu làm Việt gian bán nước cho cả hai đế quốc Vatican và Pháp từ đời Ngô Đình Niệm, tức là ông nội của Ngô Đình Diệm. Dưới đây là nguyên văn lời ông Giuse Phạm Hữu Tạo viết:
“Chiến thuyền Pháp bắn phá và tấn chiếm Đà Nẵng vào năm 1858, có số giáo sĩ Tây và giáo dân Việt gian đón tiếp và xúi tấn công dứt điểm Huế. Trong số giáo sĩ có Gauthier (tên Việt là Ngô Gia Hậu có linh mục Nguyễn Trường Tộ đã cởi áo dòng theo hầu), linh mục Pellerin, linh mục Huc, Caspar (tên Việt là Lộc có giáo dân Ngô Đình Niệm là cha Ngô đình Khả theo hầu), linh mục Nguyễn Hoàng…..đại quan thuyền trưởng Pháp đã không thấy vài trăm ngàn giáo dân Việt gian đón tiếp theo như những linh mục Tây phúc trình.“[iv]
Đến đời thân phụ của ông Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả thì lại còn ghê gớm hơn nữa. Đặc tính ghê gớm này được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật ghi lại việc làm ghê gớm của ông Ngô Đình Khả như sau:
“Theo tài liệu sử, Ngô Đình Khả được Triều Nguyễn thời Pháp thuộc trọng dụng là nhờ công lao giúp Nguyễn Thân tiêu diệt lực lượng chống Pháp của nhà ái quốc Phan Đình Phùng và đặc biệt là đã đào mả cụ Phan (lấy xác cụ đốt thành tro, lấy tro) nhồi vào thuốc súng để bắn cho tiêu tan hài cốt cụ Phan: quả thật là một tên đại thần, đại gian đại ác.”[v]
B.- Về những việc làm phản trắc của Diệm.- Những việc làm phản trắc của ông Diệm đối với nhiều người đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Dưới đây là một số những việc làm phản trắc của ông ta:
image
1.- Phản lại lời thề trung thành với Quốc Trưởng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu khi được bổ nhậm làm thủ tướng với toàn quyền quyết định về cả dân sự lẫn quân sự vào ngày 19/6/1954. Khi về Việt Nam cầm quyền và sau khi đã củng cố xong quyền lực, ông Diệm cho tổ chức ngày Trưng Cầu Dân Ý vào ngày 23/10/1955 để truất phế ông Bảo Đại, người mà chính ông ta đã làm tôi hai lần : (a) những năm tháng trước ngày 12/7/1933 và (b) những năm tháng sau ngày19/6/1954. Ta gọi hành động này là phản thần.
2.- "Phản quốc và hại dân” qua những hành động tra tấn các nhà cách mạng chống Liên Minh Xâm Lược Pháp - Vatican: Khi được Liên Minh Pháp – Vatican cho làm tri phủ ở Hoa Đa, Diệm đèn cầy sấy hậu môn để lấy khẩu cung hầu tâng công với quan thày Vatican và Pháp như đã kể trên. Trong thời kỳ nắm quyền cai trị miền Nam từ tháng 7 năm 1954 cho đến trưa ngày 1/11/1963, ông đã phạm những tội ác chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nam như đã nói ở trên. Ta gọi hành động này là phản quốc và người phạm tội phản quốc là Việt gian.
3.- "Phản trắc" và "tráo trở". Trong năm 1933, ông Diệm có liên hệ đến âm mưu vận động cựu Toàn Quyền Alexandre Varenne thân Giáo Hội La Mã trở lại Đông Dương để thay thế Toàn Quyền Pierre Pasquier (có tinh thần bất thân thiện với Giáo Hội La Mã). Âm mưu bị bại lộ cho nên mới bị Pháp sa thải. Sau đó, tới đầu thập niên 1940, ông lại mưu toan liên kết với tín đồ Da-tô Cường Để ở Nhật để chống lại Pháp. Âm mưu này cũng bị bại lộ và bị Pháp bắt giam. Vì thế mới có chuyện Giám-mục Ngô Đình Thục viết lá thư đề ngày 21/8/1944 gửi Toàn Quyền Jean Decoux xin khoan hồng cho hai người em là Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Trong lá thư này, Giám-mục Thục có nói về công trạng đối với Pháp của thân phụ ông ta là Ngô Đình Khả“đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu,… chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Ohùng chỉ huy…” Những hành động như vậy gọi là phản chủ.
4.- Phản lại Hoa Kỳ: Hoa Kỳ đã cưu mang, lo lót chạy chọt cho ông về Việt Nam làm thủ tướng chính quyền chống Cộng ở miền Nam Việt Nam, nhưng rồi ông lại qua mặt Hoa Kỳ, dồn nỗ lực vào việc tiến hành kế hoạch "Da-tô hóa miền Nam Việt Nam" bằng bạo lực và bằng tất cả các phương tiện của chính quyền. Việc làm đại gian đại ác này hoàn toàn trái với Hiến Pháp Hoa Kỳ (trong đó có điều khoản “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”), và đi ngược với trào lưu tiến hóa của nhân loại. Chính vì thế mà nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân thế giới mới lên án chế độ của ông là chế độ đạo phiệt Da-tô, mới gọi ông là một “Spanish Inquisitor”, và sách sử mới ghi nhận ông là một trong số 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại. Vì bị nhân dân Hoa Kỳ chống đối dữ dội, chính quyền Hoa Kỳ mới ra chỉ thị cho ông phải sửa sai và thay đổi chính sách. Thay vì phải sửa sai và thay đổi chính sách, ông lại tìm cách bắt tay với chính quyền miền Bắc để bắt chẹt (blackmail) Hoa Kỳ. Hành động này được gọi là hành động phản chủ.
5.- Phản lại bạn bè: Các ông Trần Văn lý, Tạ Chương Phùng, Lê Quang Luật, v.v… là những người bạn của ông từ cái thuở ông còn long đong với hai bàn tay trắng. Họ đã ủng hộ và hy sinh công lao, thì giờ cũng như tiền bạc để cưu mang khi ông Diệm còn lận đận. Sau khi lên cầm quyền, ông phản lại những người này nhưa hành động thủ tiêu người con trai của Cụ Tạ Chương Phùng là Tạ Chí Diệp, đối xử rất tệ với cụ Trần Văn Lý, lọai ông Lê Quang Luật ra khỏi chính quyền.[vi] Hành động này gọi là phản bạn.
6.- Phản lại tướng Trình Minh Thế. Ông Diệm cho người thuyết phục ông Trình Minh Thế đem lực lượng Cao Đài võ trang về hàng. Ông Thế đã nghe theo, về hàng và được gắn lon thiếu tướng. Sau đó, ông lại ám sát ông Thế. Đây là một trong hành động phản trắc.
7.- Phản lại Đại Tá Edward G. Lansdale: Đại Tá Edward G. Lansdale là người được Tổng Thống Eisenhower cử sang Việt Nam làm cố vấn đặc biệt cho ông Diệm ở Sàigòn và đã sang Việt Nam trước khi ông Diệm về nước cầm quyền. Vai trò và công ơn của Đại Tá Edward G. Lansdale đối với ông Diệm như một vị sư phụ đối với một đệ tử yêu quý nhất trong truyền thống võ lâm Trung Hoa. Đại Tá Edward G. Lansdale đã lo cho ông Diệm đủ mọi thứ, từ miếng ăn, vấn đề an ninh ở trong dinh Độc Lập, lập kế hoạch đưa cả hơn 600 ngàn người Công Giáo Bắc Kỳ vào miền Nam làm lực lượng hậu thuẫn cho ông, ly gián, phá vỡ âm mưu đảo chánh của Tướng Nguyễn Văn Hinh trong những tháng 9-11/1954, dạy dỗ ông cách ăn nói và hành xử với nhân viên cấp dưới, cách phân biệt những người xu thời nịnh bợ và những người mộc mạc chân thành ủng hộ ông, phải đối đãi tử tế với những người cộng tác chân thành như Tướng Trình Minh Thế, chỉ bảo cho ông biết cung cách hành xử của một vị tổng thống ở một nước dân chủ, v v… Khi địa vị chưa vững, ông đã tỏ ra ngoan ngoãn nghe lời Đại Tá Edward G. Lansdale như một môn sinh ngoan ngoãn nghe lời vị lương sư chỉ dạy. Nhưng khi chính quyền và địa vị đã củng cố và vững mạnh, những ác tính tiềm ẩn trong con người của ông đã biến thành hành động, cho người ám sát Tướng Thế bất kể gì cả lời khuyên dạy của Đại Tá Edward G. Lansdale . Hành động này gọi là phản thày.
8.- Phản lại lời cam kết với quốc dân miền Nam Việt Nam và những người chỉ huy cuộc đảo chánh 11/11/1960. Khi Dinh Độc Lập bị quân đội Nhẩy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại-tá Nguyễn Chánh Thi bao vây ngặt nghèo vào sáng sớm ngày 11/11/1969 và gửi tối hậu thư cho ông phải cải tổ chính quyền, ông tuyên bố với quốc dân rằng ông “quyết định giải tán chính phủ hiện thời để các tướng lãnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa thành lập chính phủ lâm thời để có thể chiên đấu tiếp tục chống Cộng…”[vii] Nhưng chưa đầy 24 giờ sau, khi viện quân của Đại Tá Trần Thiện Khiêm từ miền Tây kéo về tới Phú Lâm, ông liền trở mặt, xóa bỏ hết những gì ông tuyên bố ngày hôm trước. Đây là hành động phản dân.
9.- Phản lại lời cam kết vào ngày 16/6/1963 với Phật Giáo. Việc tiến hành kế hoạch Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo lực đã làm nẩy sinh phong trào Phật Giáo tranh đấu để đòi bình quyền về tôn giáo. Dưới áp lực của Hoa Kỳ, ông đã cho thành lập một Ủy Ban Liên Bộ nói chuyện với phái đoàn Liến Phái của Phật Giáo:
“Ngày 16/6/1963: Hai Uỷ Ban Liên Bộ và Liên Phái, sau 3 ngày và đêm thảo luận, ra một thông cáo chung xác định những điểm đã thỏa hiệp về cách treo cờ Phật Giáo và Quốc Kỳ; xét lại Dụ số 10 về phần quy chế tôn giáo; điều tra về các vụ bắt bớ, và khoan hồng cho những người tranh đấu cho Phật giáo; dành mọi sự dễ dàng cho các hoạt động tôn giáo; trừng trị những nhân viên có lỗi, bồi thường cho các gia đình nạn nhân.”[viii]
Bản thỏa hiệp vừa ký xong được mấy ngày, ông trở mặt. Báo chí và đài phát thanh của Sàigon trở giọng mạt sát Phật giáo, cảnh sát và mật vụ vẫn tiến hành những chiến dịch truy lùng bắt giam và tra tấn Phật tử, học sinh và sinh viên, các truờng học được lệnh đóng cử. Bản thỏa hiệp giữa Ủy Ban Liên Bộ và Liên Phái Phật giáo được ký kết vào ngày 16/6/1963 tại giữa thủ đô Sàigòn bị ông Diệm liệng vào xọt rác. Đây là một hành động tráo trở hay phản phé.
10.- Phản lại lời hứa đã hứa với Đại-sứ Frederick Nolting: Việc chính quyền Ngô Đình Diệm bách hại Phật Giáo khiến cho Hoa Kỳ lo ngại và bị lên án vì rằng vào năm 1954, chính Hoa Kỳ đã đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền rồi cưu mang chính quyền này kể từ đó. Cũng vì vậy mà Đại-sứ Hoa Kỳ ở Sàigòn là ông Frederick Nolting được lệnh chủ chính quyền Hoa Kỳ đến gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm yêu cầu (đúng ra là ra lệnh cho ông) phải giải quyết vấn đề Phật Giáo cho êm đẹp. Lần nào nói chuyện với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đại-sứ Nolting cũng được Tổng Thống Diệm hứa rằng sẽ giải quyết vấn đề Phật Giáo theo tinh thần hòa giải. Tuy là hứa như vậy, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn vi phạm những điều đã cam kết trong bản thỏa hiệp mà Ủy Ban Liên Bộ và Liên Phái Phật Giáo đã ký kết vào ngày 16/6/1963. Có thể vì tình trạng này, đầu tháng 8/1963, Đại-sứ Noilting nhận được lệnh bị triệu hồi về Mỹ và chức vụ đại sứ Hoa Kỳ tại Sàigòn sẽ được ông Cabot Lodge sang thay thế. Trước ngày 15 tháng 8 năm 1963, Đại-sứ Frederick Nolting đến Dinh Gia Long gặp Tổng Thống Diệm để từ biệt về Mỹ và yêu cầu ông Diệm hứa với ông rằng chính quyền ông Diệm không được dùng vũ lực tấn công các chùa chiền của Phật giáo. Tổng Thống Diệm đã long trọng cam kết với ông Noltting rằng ông sẽ không bao giờ tấn công Phật giáo. Được lời cam kết này của ông Diệm, ông Nolting yên trí trở về Hoa Kỳ và dự tính rằng sẽ báo cáo với Tổng Thống Kennedy bằng những lời lẽ bao dung cho anh em ông Diệm. Thế nhưng, trên đường về nước, khi tới Hawaii, ông Nolting được tin các chùa chiền ở trong các thành phố lớn ở Việt Nam bị quân chính phủ tấn công vào đêm ngày 20/8/1963 và ông Nolting đã tỏ ra vô cùng phẫn nộ về hành động phẳn trắc này của ông Diệm. Sự kiện này được sử gia John Newsman, người Hoa Kỳ, ghi nhận như sau:
“Ngày 19/7 , ông Diệm lên đài phát thanh nói với đồng bào trong hai phút, bày tỏ ý muốn hòa giải với phe Phật Giáo, nhưng ông nói với vẻ lạnh lùng và nhân nhượng rất nhỏ nhoi, chỉ vừa đủ làm cho tình hình dịu bớt. Hậu quả, vào tháng 8, cuộc đấu tranh của Phật Giáo bộc phát trở lại: Khán giả truyền hình Mỹ được nhìn thấy các vụ tự thiêu vào những ngày 5, 15, và 18 (tháng 8) của 7 nhà sư và một ni cô. Tình hình gia tăng đến mức căng thẳng từ giữa tháng 8 tưởng chừng như sắp nổ tung, qua đến sáng ngày 21/8, “Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ bị cô lập hoàn toàn,” và khuya hôm ấy, ông Diệm tuyên bố tình trạng thiết quân luật trên toàn lãnh thổ và ông Nhu cho Cảnh Sát Chiến Đấu, một thứ Lực Lượng Đặc Biệt của riêng ông, tiến hành cuộc bố ráp các chùa và bắt giữ 1,400 Phật tử. Ông Nhu lợi dụng thiết quân luật để bắt bớ, nhưng che đạy bằng lệnh của các tướng vùng.
Hành động của ông Nhu rõ ràng đã tạo ra bế tắc trong quan hệ Việt Mỹ. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lên án các cuộc bố ráp các chùa chiền như sau:
“Dựa trên những tin tức từ Sàigòn, rõ ràng chính phủ VNCH đã dùng những biện pháp đàn áp nghiêm trọng các nhà lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam. Hành động này tiêu biểu cho sự vi phạm trắng trợn các bảo đảm của chính phủ Việt Nam đã hứa theo đuổi chính sách hòa giải với Phật Giáo. Hoa Kỳ muốn phàn nàn về các hành động đàn áp như vậy.”
Ông Nhu cho cắt các đường dây điện thoại của Tòa Đại Sứ. Các tướng lãnh giận dữ đến Tòa Đại Sứ và hỏi xem Hoa Kỳ có chịu ủng hộ đảo chánh hay không?
Lúc bấy giờ (Frederick) Nolting cùng (Henri Cabot) Lodge và (Roger) Hillsman đang có mặt ở Honululu, cảm thấy choáng váng vì các biến chuyển ở Sàigòn. Ông liền đánh điện trách ông Diệm rằng: “Đây là lần đầu tiên Tổng Thống đã tự phản bội với những lời hứa trước mặt tôi.” Hillsman mô tả giây phút Nolting trố mắt nhìn những dòng chữ từ từ hiện ra trên máy viễn ấn ký như sau:
“Tôi nghe có tiếng chửi đổng lúc chúng tôi đọc từng chữ trên máy. Cuộc tấn công được sắp xếp vào thời gian giữa hai đại sứ cũ và mới thay đổi công việc.Ông Diệm đã cả gan dám bội ước và không dành một hành động nào để cứu vãn danh dự cho Hoa Kỳ. Ông ta đã đặt chúng ta trước một chuyện đã rồi mà ông ta biết rõ đã làm tổn thương đến tinh thần thượng võ và sự công minh của chúng ta, và ông ta đã có những hành động kiêu căng, ngạo mạn vì cho rằng chúng ta sẽ phải ngậm đắng nuốt cay như chúng ta đã từng chịu đựng trong quá khứ. Lúc ấy nét đau khổ lộ ra trên khuôn mặt của Nolting.”
Tuy nhiên, lần này Hillsman sẽ cố làm sao để không phải nuốt một viên thuốc đắng nào hết.” [ix]
Đây là một hành động phản bạn vì rằng ông Đại Sứ Nolting được coi như là một người bạn khá thân với ông Diệm và đã che chở rất nhiều cho ông Diệm khi báo cáo về chính quyền Hoa Kỳ.
Trên đây, người viết mới liệt kê ra có 10 lần ông Diệm đã có hành động phản trắc. Có thể còn có rất nhiều lần phản trắc khác nữa mà người viết không biết. Với quá nhiều lần phản trắc như vậy, ta có thể nói đặc tính phản trắc của ông Diệm là bẩm sinh và cũng có thể gọi là bản chất. Giang sơn dễ đổi, bản chất khó chừa. Vì khó chừa, cho nên ông Diềm mới có nhiều lần phản trắc như vậy.
Không biết cái bản chất phản trắc này có hiện ra ở chỗ nào trên cơ thể của ông không? Được biết trong truyện Tam Quốc, cái tướng phản trắc của thằng Ngụy Diên hiện ra thành một cái bướu (cục u) ở nửa đầu phía sau, trên gáy của nó.
Nói về thành tích phản trắc của ông Ngô Đình Diệm, sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi viết:
“Thái độ bất trung với nước và bất tín với dân của anh em ông Diệm như thế, chả trách nào ông Trần Văn Lý, một nhân sĩ Thiên Chúa Giáo miền Trung còn biết rõ xuất xứ, tôn tộc, sự nghiệp và cuộc đời của nhà Ngô, đã lên án nhà Ngô là những kẻ mang mười chữ “bất”: Bất hiếu, bất trung, bất nhân, bất nghĩa, bất tài,bất trí, bất công, bất minh, bất tín và bất hòa”.
Hơn ai hết, ông Trần Văn Lý có đủ tư cách để lên án anh em nhà Ngô mang mười chữ “bất”. Ông Diệm với ông Lý từng là đôi bạn chí thân từ ngày mới vào quan trường, lại là đồng đạo và đồng hương (Trị Thiên), cùng là môn đệ của Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài. Ông Diệm và ông Lý cùng ở trong Phong Trào Cường Để; năm 1945, ông Diệm đã cùng sống với ông Lý tại Đà Lạt một tháng sau khi bị Nhật Bản bỏ rơi. Năm 1947-1948, cùng qua Hồng Kông xây dựng “Giải Pháp Bảo Đại”, cùng chủ trương thể chế “Quân Chủ Lập Hiến”. Thời làm Thủ Hiến, ông Lý đã từng giúp đỡ bạc tiền cho anh em ông Diệm họat động chính trị. Ngày ông Diệm mới về cầm quyền, ông Lý bị Ngô Đình Cẩn cho bộ hạ ném lựu đạn vào nhà khi ông còn ở gần nhà ga Huế, đến năm 1960 bị anh em ông Diệm bắt giam vì đã ở trong nhóm “Caravelle”.[x]
“Quân bất hí ngôn.” Làm vua hay tổng thống hoặc là nhà lãnh đạo chính quyền phải “nhất ngôn cử đình”, “lời nói như dao chém đá”, không được nói láo, không được nói chơi, không được hứa cuội và phản phé với bất cứ người nào. Ấy thế mà ông Ngô Đình Diệm, đường đường là một vị tổng thống của miền Nam Việt Nam lại nói láo còn hơn cả cuội. Là một tổng thống của một nước có hơn bốn ngàn năm văn hiến mà bạ đâu ông cũng hứa cuội, cũng nói láo và cũng phản phé. Không những ông chỉ nói láo, hứa cuội và phản phé với người Việt Nam, mà ông còn hứa cuội, nói láo và phản phé với cả nhà ngoại giao đại diện cho Hoa Kỳ ở Miền Nam Việt Nam. Hành động vô liêm sỉ này của ông đã khiến cho ông Đại Sứ Nolting đã phải “chửi đổng”. Như vậy là ông Tổng Thống Diệm đã làm nhục quốc thể.
Thuộc từ “cuội” và danh từ “thằng Cuội” dành cho ông thiết tưởng rất đúng nhưng vẫn chưa đủ. Đúng là chỉ đúng với cái tíng gian dối hứa cuội và nói láo của ông ta mà thôi. Chưa đủ là vì trong con người ông, còn có không biết bao nhiêu ác tính ghê tởm gấp ngàn lần ác tính hứa cuội và nói láo. Tất cả những ác tính này đều nằm trong 17 ác tính Da-tô mà người viết đã trình bày ở trên, trong đó có ác tính phản trắc, bạo ngược và hiếu sát là ghê tởm nhất. Đối với những tín đồ Da-tô khác, ác tính phản trắc, hiếu sát và bạo ngược là ác tính Da-tô, nhân tạo, do chính sách ngu dân và giáo dục nhồi của Giáo Hội La Mã tạo nên. Trái lại, riêng về trường hợp ông Ngô Đình Diệm, như đã trình bày ở trên, những ác tính này là bẩm sinh. Chính vì vậy mà ông mang trong người không biết bao nhiêu là thứ “phản”: phản thần, phản quốc, phản dân, phản thày, phản chủ, phản bạn, phản cấp trên, phản những người thuộc cấp. Xin tạm gọi là “bát phản”. Ác tính “phản” của ông còn vượt xa cả ác tính “phản” của nhân vật Ngụy Diên trong sách Tam Quốc Chí. Vậy thì ta phải gọi ông ta là “Thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm”.
Đối với Giáo Hội La Mã và xã hội Da-tô, thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm được coi là mẫu người lý tưởng và được suy tôn lên là “nhà chí sĩ yêu nước” và “nhà ái quốc” (của Đế Quốc Vatican). Nhưng đối với xã hội Đông Phương, thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm này đã được ghi vào lịch sử là “một tên thiên cổ tội nhân” của dân tộc, và các nhà viết sử ở ngoài xã hội Da-tô cũng đã ghi nhận ông ta là một trong số một tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân lọai.
Hết Chương 63
Chú thích
[i] Lê Hữu Dản, Sđd., tr. 327.
[ii] Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam(Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35.
[iii] Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171
[iv] Phạm Hữu Tạo. “Quốc Kỳ Việt Nam.” dongduongthoibao.net Tháng 12/2005.
[v] Lê Hữu Dản, Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật - Tập Hai (Wesminster, CA: Văn Nghệ,1996), tr 18.
[vi] Xin xem sách Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), tr. 234-326, và phần kết luận ở sau .
[vii] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một Trời Tâm Sự (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1987), tr. 145.
[viii] Đoàn Thêm, Sđd., tr. 351.
[ix] John Newsman & Trần Ngọc Dung dịch, John F. Kennedy và Chiến Tranh Việt Nam (San Jose, CA: Nhà Xuất Bản Thế Giới, 1993), tr. 327-329.
[x] Đỗ Mậu, Sđd., tr. 591..