Hồ Chí Minh : một sản phẩm lộn kiếp
PhoNang 2012/01/04Kính thưa quý vị,
Trong bài viết về Hồ Chí Minh, ông Trần Chung Ngọc có đề cập đến cuốn sách " Ho Chi Minh: A Life " của William J. Duiker.Để rộng đường dư luận, kính mới quý vị đọc bài dưới đây .
Trân trọng.
Nguyễn thị Bé Bảy
Một sản phẩm “ lộn kiếp ”!
Nguyễn thị Bé Bảy
Quyển < Ho Chi Minh: A Life > của William J. Duiker do nhà xuất bản Hyperion Books ở New York xuất bản vào năm 2000. Vào thời điểm này, quyển sách được người Việt hải ngoại “nghe” đến khi nhà nước CSVN lên tiếng xin phép nhà xuất bản và tác giả cho họ được cắt xén một vài đoạn trong quyển sách khi phiên dịch ra Việt ngữ. Nếu quả thật có một vài đoạn cần phải cắt xén đi chăng nữa, nhưng việc phiên dịch quyển sách ra Việt ngữ của bạo quyền CSVN đã chứng tỏ quyển sách rất có lợi cho chế độ CSVN trên mặt trận tuyên truyền.
Quả thật vậy!
Ngay bìa mặt của quyển sách, là lời phê bình của Washington Post Book World: A major scholarly achievement .( Một công trình uyên bác to tát.)
Bià lưng , là những lời giới thiệu:
- Named one of the best books of the year by Washington Post and the Los Angeles Times. ( Được liệt kê là một trong những quyển sách hay nhất trong năm bởi Washington Post và Los Angeles Times )- A finalist for the Mark Lynton History Prize and the Lionel Gelber Prize ( Nằm trong danh sách chung kết của hai giải thưởng Mark Lynton History và Lionel Gelber )và những lời phê bình:
- (A) magnificent new biography ( Một thiên tiểu sử mới hùng tráng ) - Frances Fitgerald, The New York Times Book Review.
- This is an astounding book, the research so thorough and exacting as to take one’s breath away. ( Đây là quyển sách gây kinh ngạc, một sự nghiên cứu rất tỉ mỉ và chính xác, làm cho người ta nín thở ) - Martin Booth, The Sunday Times (U.K)
- Much has been written about Ho Chi Minh, but nothing equals William J. Duiker’s biography. Meticulously research, profoundy perceptive, and highly readable, it finally demystifies one of the most fascinating, enigmatic, controversal, and influential figures of the Twentieth century. ( Đã có nhiều người viết về Hồ Chí Minh, nhưng tất cả không đáng kể so với quyển tiểu sử do William J. Duiker viết. Đây là một sự nghiên cứu tỉ mỉ, một nhận thức uyên thâm rất đáng đọc; sau hết, nó vén bức màn bí mật về một nhân vật bí ẩn, lôi cuốn, phức tạp và gây ảnh hưởng nhiều nhất của thế kỷ 20.) - Stanley Karnow, Author of Vietnam : A History
Tất cả những lời giới thiệu và phê bình trên đây đều ca ngợi công trình nghiên cứu của William J. Duiker, trực tiếp xác nhận những điều trình bày của tác giả là chính xác và tỉ mỉ, cẩn thận, tinh vi, uyên thâm, uyên bác; có nghĩa là trực tiếp xác nhận những điều mà William J. Duiker trình bày về cuộc đời của Hồ Chí Minh là chính xác, là tỉ mỉ, là cẩn thận, là uyên thâm.......
Vậy thì , bằng cách nào, William J. Duiker đã thu thập những tài liệu về Hồ Chí Minh để hoàn thành quyển sách dày 595 trang, không kể những phụ trang và 4 trang bìa, để rồi nhận được những lời giới thiệu và phê bình “ vô cùng tốt đẹp ” như trên ?
Xin hãy nghe tác giả trình bày.
Trong lời mở đầu, tác giả viết : ( Trích )
“ Tôi bị lôi cuốn về Hồ Chí Minh từ giữa thập niên 1960’, khi còn là một nhân viên ngoại giao trẻ tuổi làm việc trong tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sàigon; tôi điên đầu bởi một sự thật là Việt Cộng, quân phiến loạn chiến đấu ở trong rừng, rõ ràng họ có kỷ luật và có động lực thúc đẩy hơn là quân đội của đồng minh chúng ta, chính phủ miền Nam Việt Nam. Trong khi cố gắng tìm hiểu vấn đề, tôi bị thuyết phục bởi lối giải thích là do vai trò của một người chủ động, là một chiến lược gia, và là một nhà cách mạng Việt Nam : Hồ Chí Minh. Sau khi nghỉ việc trong chính phủ Hoa Kỳ, tôi theo đuổi một nghề nghiệp có tính hàn lâm, do đó tôi nghĩ đến việc viết tiểu sử của nhân vật độc đáo và phức tạp nói trên, nhưng tôi sớm nhận ra những tài liệu mà tôi gom góp được chưa đủ để hoàn thành một chân dung có tính thuyết phục về cuộc sống và sự nghiệp của ông ta. Vì vậy, tôi tạm gát dự án cho tới thời gian gần đây, khi tài liệu từ nhiều quốc gia trên thế giới bắt đầu được phổ biến ồ ạt; tôi nhận thấy đây là thời điểm có thể thực hiện được dự án.
Tiến trình hoàn tất quyển sách này trải dài trên hai thập niên; trong thời gian này, tôi đã nhận được sự yểm trợ từ nhiều nơi. Cơ quan The College Fund for Research của College of Liberal Art , và cơ quan Institute for the Art and Humanistic Studies của Penn State University đã cung cấp ngân khoản để cho tôi nghiên cứu các tài liệu tại Pháp và Việt Nam. Qua sự giúp đở của Mark Sidel thuộc cơ quan Ford Foundation, tôi được tháp tùng theo Marilyn Young và A. Tom Grunfield trong chuyến đi Hà Nội năm 1993 để tìm hiểu sự liên hệ giữa Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ . Tôi cũng xin cám ơn cơ quan Social Science Research Council và Indochina Scholarly Exchange Program đã tặng tôi một ngân khoản vào năm 1990 để nghiên cứu về Hồ Chí Minh tại Hà Nội.Trong khi tôi ở tại Hà Nội, thì Viện Sử Học, Viện Đại Học Hà Nội, và Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác- Lênin đã vô cùng tử tế sắp xếp cho tôi một lịch trình thảo luận với các vị học giả những đề tài về quyền lợi hổ tương , về Hồ Chí Minh, và về lịch sử cuộc cách mạng Việt Nam. Viện Bang Giao Quốc Tế đã bảo trợ chuyến thăm viếng của tôi vào năm 1985, trong đó có chuyến đi về làng Kim Liên, nơi sinh đẻ Hồ Chí Minh. Đối với những cá nhân đã trợ giúp công cuộc nghiên cứu của tôi tại Hà Nội, tôi xin được cám ơn Nguyen Huy Hoan thuộc Viện Bảo Tàng Hồ Chí Minh, Nguyen Thanh thuộc Viện Bảo Tàng Cách Mạng và Tran Thanh thuộc Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác- Lênin, tất cả đã bằng lòng dành cho tôi những cuộc phỏng vấn khá dài. Tại Viện Đại Học Hà Nội, các sử gia Phung Huu Phu, Le Mau Han, Pham Xanh và Pham Cong Tung đã tử tế dành cho tôi thì giờ và cung cấp tài liệu nghiên cứu liên quan đến cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ha Huy Giap ( đã quá cố ) thuộc Bảo Tàng Viện Hồ Chí Minh và Dang Xuan Ky, nguyên giám đốc Viện Khoa Học Xã Hội cũng đã tử tế trả lời những câu hỏi của tôi về những điều mà họ còn nhớ về Hồ Chủ Tịch. Do Quang Hung, Ngo Phuong Ba, Van Tao và Tran Huu Dinh thuộc Viện Sử Học và Luu Doan Huynh thuộc Viện Bang Giao Quốc Tế đã quảng đại trong việc sử dụng thời giờ của họ để giúp tôi khám phá những vấn đề then chốt trong dự án. Tôi cũng đặc biệt cám ơn Vu Huy Phuc, người rất kiên nhẫn và có óc khôi hài đã kiêm nhiệm hai công việc, vừa là người bảo vệ, vừa là người bạn cùng nghiên cứu trong chuyến viếng thăm Việt Nam của tôi vào năm 1990. Gần đây nhất, ông Hoang Cong Thuy thuộc tổ chức Vietnam-American Friendship Society đã cho tôi tiếp xúc với các cá nhân cũng như cung cấp những nguồn tài liệu khi tôi đi theo đường mòn Hồ Chí Minh. Duong Trung Quoc thuộc tạp chí Xưa Nay cũng cung cấp cho tôi một số báo hữu ích. Nguyen Quoc Uy thuộc Việt Nam Thông Tấn Xã cũng rất tử tế cho phép tôi được in lại trong quyển sách này một số hình ảnh thuộc tác quyền của cơ quan VNTTX. ” ( Preface I x ).
( Ngưng trích )
.......
Tiếp theo, tác giả cám ơn các cơ quan, tổ chức, các thư viện, các viện đại học của Hoa Kỳ, Pháp, Nga, Trung Cộng, Anh Quốc, Hồng Kông đã cung cấp các tài liệu liên quan đến Hồ Chí Minh và những cá nhân như Douglas Pike, Steve Denny, King C. Chen ( quá cố ), Stanley Karnow, Bill Turley, Gary Tarpinian, Mai Elliott v.v.... Sau cùng, tác giả cám ơn hai cô con gái trong nhiều năm đã lắng nghe về chuyện Việt Nam và cám ơn bà vợ kiên nhẫn, là người đầu tiên đọc bản thảo của tác giả và nhiều lúc đã xem Hồ Chí Minh như là một phần tử trong gia đình. ( Preface I x, I x i, I x i i )
Kính thưa quí độc giả.
Khi trình bày những dữ kiện vừa kể trong quyển sách < Ho Chi Minh: A Life >, chúng tôi không dám có tham vọng thực hiện một công việc quá to tát, công phu và ngoài khả năng của chúng tôi; là phân tích một quyển sách mà tác giả William J. Duiker đã bỏ thời gian trên hai thập niên để hoàn tất, với con số tài liệu và sử liệu đồ sộ như tác giả đã liệt kê; mặc dù chúng tôi nhận thức rằng công việc nhận xét cuốn sách trên đây là một công việc vô cùng cần thiết và quan trọng, để trả lại sự thật cho lịch sử và để lại tài liệu cho thế hệ con cháu chúng ta. Đây là một công tác dài hạn và công phu cần đến sự làm việc của nhiều người trong mọi giới.
Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi chỉ xin đưa ra một đoạn nhỏ trong quyển sách để đối chiếu với tài liệu mà chúng ta đang có; trong đó, một số chứng nhân có thể vẫn còn sống sót cho tới ngày hôm nay: đó là Phong Trào Cải Cách Ruộng Đất.
William J. Duiker đã trình bày Phong Trào Cải Cách Ruộng Đất ( tr. 475-479 ) như sau:.......... Vũ khí mà phe cực đoan chọn lựa để trả công cho cuộc đấu tranh giai cấp tại nông thôn là Cải Cách Ruộng Đất. Hồ Chí Minh không chấp nhận các biện pháp thô bạo trong suốt thời kỳ chiến tranh chống Pháp, nhưng vào năm 1953, theo lệnh của các cố vấn Trung Cộng, ông phải miễn cưỡng xiết chặt các biện pháp chỉnh lý như là những phương tiện để thúc đẩy nông dân chuẩn bị sẳn sàng cho trận Điện Biên Phủ. Với hình ảnh chiến tranh sắp chấm dứt, đảng xúc tiến kết thúc kế hoạch và sắp đặt cho chương trình hợp tác xã trên toàn quốc. Trong lời kêu gọi đồng bào vào đầu tháng 9 năm 1954, Hồ Chí Minh hứa hẹn chương trình cấp ruộng cho bần nông trong vùng vừa mới giải phóng tại các tỉnh miền Bắc sẽ là kế hoạch ưu tiên của chính phủ . Mặc dù Hồ tâm sự với những người thân cận là cá nhân ông không cảm thấy vội vã trong việc thực thi kế hoạch, tuy nhiên ông ủng hộ biện pháp này như là một chiến thuật để làm vui lòng Bắc Kinh, và có lẽ cũng là để hoà giải với những đồng chí trong giới quân nhân như Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt. ( Ho Chi Minh on Revolution: Selected Writting – Bernard B. Fall; Đêm Giữa Ban Ngày, tr.221 -Vũ Thư Hiên; Land Reformed in China and North Vietnam – Edwind E. Moise )
Thực hiện Cải Cách Ruộng Đất theo bước kế tiếp, các lãnh tụ trong đảng nhắm đến hai mục tiêu: Mục tiêu thứ nhất là tác dụng về kinh tế: tận dụng đất đai canh tác qua việc tái phân phối ruộng đất từ những địa chủ trong làng cho những bần nông và bần cố nông đang chiếm đa số tại nông thôn. Theo đúng như khuôn mẫu đã áp dụng tại Hoa Lục vào những năm trước, các lãnh tụ của đảng hy vọng sự làm chủ đất đai sẽ kích thích các nông dân gia tăng sản xuất , làm nền móng cho kế hoạch hợp tác xã trong tương lai gần.
Mục tiêu thứ hai quan trọng hơn, là mục tiêu về chính trị: nhằm tiêu diệt thế lực phong kiến ( được gọi là giai cấp địa chủ ) và tạo nên một giai cấp lãnh đạo mới tại nông thôn, gồm những bần nông, những người chịu ơn đảng và sẽ trung thành tuân theo chính sách của đảng.
Để làm nổi bật lợi ích chính trị của Phong Trào Cải Cách Ruộng Đất, những phần tử cực đoan trong nhóm lãnh đạo đảng đã theo câu châm ngôn của Mao Trạch Đông - người khởi xướng kế hoạch tương tự tại Trung Hoa- nói thẳng thừng rằng “ cách mạng không phải là một buổi dạ tiệc”. Kể từ thập niên 1920’s, Mao đã hô hào việc nâng cao giai cấp nông dân trong công cuộc đấu tranh giai cấp để lôi kéo sự ủng hộ của họ. Mặc dù cuộc đấu tranh giai cấp bị đình hoãn trong thời kỳ chiến tranh với Nhật Bản, trong giai đoạn cuối của cuộc chiến Quốc Cộng và trong giai đoạn Cải Cách Ruộng Đất vào đầu thập niên 1950’s, những đội viên cải cách của Mao đã tổ chức các cuộc “ đấu tố ” , khích động nông dân tố khổ các địa chủ của mình, đặc biệt, những người mang “ nợ máu ” với nhân dân. Tại các tòa án nhân dân được thiết lập trên khắp Hoa Lục , hàng ngàn người bị kết tội và bị hành quyết. Mặc dù vậy, nhưng thành phần quân sự trong Đảng Lao Động Việt Nam lại sẳn lòng áp dụng biện pháp tương tự cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Lê Đức Thọ, lãnh tụ đảng tại miền Nam đã phát biểu vào năm 1952: “ nếu người nào muốn lãnh đạo cuộc nổi dậy của nông dân, điều cần yếu trước tiên là người ấy phải khích động lòng căm thù của nông dân ” cũng như quan tâm đến quyền lợi thực tế của họ. ( Làm thế nào để phát động chiến tranh du kích tại Nam bộ - Lê Đức Thọ, .......)
Phong trào CCRĐ được phát động vào mùa hè và mùa thu 1954. Dưới sự chỉ huy của cựu đảng viên và lãnh tụ lao động Hoàng Quốc Việt, giai đoạn đầu của phong trào được sự ủng hộ của vài thành phần nông dân, đặc biệt là bần cố nông phục vụ trong bộ đội và đi dân công trong chiến trường Điện Biên Phủ; họ được Việt Minh tuyên truyền hứa hẹn sẽ được đền bù bằng ruộng đất. Tuy nhiên, có vài vụ phàn nàn về biện pháp đàn áp hung bạo. Khi Hồ Chí Minh được báo cáo về những trường hợp như thế, ông khiển trách những đội viên cải cách đã làm tổn thương nhân phẩm người dân và chỉ trích hành vi ngạo mạn của họ. ( Bùi Tín: Following Ho Chi Minh trang 23 và báo Nhân Dân ngày 19 tháng 11 năm 1954 )
Mặc dù đợt đầu tiên của kế hoạch mới rất khiêm tốn – khoảng 50 làng trong tỉnh Thái Nguyên , ở góc Tây Bắc của bình nguyên sông Hồng – nhưng đã tạo nên một làn sóng kinh động trên toàn quốc. Đối với thành phần ôn hòa, đây là dấu hiệu chứng tỏ thành phần cực đoan xuất hiện trong đảng vào đầu thập niên 1950’s vẫn còn mạnh, và họ có thể làm phương hại đến kế hoạch mà Hồ Chí Minh đã hứa hẹn vào mùa thu năm 1954.
Đợt cải cách kế tiếp được phát động vào mùa đông và đầu xuân 1955. Mặc dù mục bình luận của báo Nhân Dân số tháng giêng đã cảnh cáo về sự nguy hiễm của “ những sai lầm ”, các đội viên cải cách ( đa số là những người ngoài đảng được huấn luyện cho chương trình CCRĐ dưới sự hướng dẫn của các cố vấn Trung Cộng, được gửi đến nhà các nông dân để cùng làm, cùng ăn và cùng sống với họ) xúi giục các nông dân đấu tố những địa chủ đã bóc lột họ trong quá khứ. Nhiều người bị buộc tội chống lại nhân dân và bị hành quyết. Trong vài trường hợp, nông dân đã lợi dụng phong trào CCRĐ để giải quyết những mối tư thù bằng cách vu cáo người khác có hành vi phản động. Trong tiến trình của chương trình CCRĐ, dăm ba ngàn người , trong đó có nhiều người trung thành và ủng hộ phong trào Việt Minh bị kết tội phản động và bị xử tử. Trong vài trường hợp, các đội viên cải cách cũng tấn công các cán bộ Việt Minh vừa giãi ngũ và gia đình những người này. Ngay cả những người có liên hệ, móc nối với giới chức cao cấp cũng không được bảo vệ. Trường hợp điển hình, một cán bộ Việt Minh được Hồ Chí Minh đích thân che chở bằng cách chỉ thị đến nhà chức trách địa phương không được đưa người này ra trước toà án nhân dân. Tuy nhiên, người cán bộ và gia đình vẫn bị đem ra trước toà án nhân dân và bị dân làng đấu tố . Cháu gái của người cán bộ, Duong Van Mai Elliott, đã thuật lại câu chuyện như sau:
“ Mỗi khi bác tôi ra khỏi nhà đều bị trẻ con ném đá. Mỗi lần bị người nào tấn công, dù lớn hay nhỏ, bác tôi cũng cúi đầu van xin: “ lậy ông bà xin tha cho tôi....”
Địa chủ bị làm con dê tế thần cho cuộc sống khổ cực của nông dân. Trong làng của bác tôi, người ta hành hạ ông để chứng tỏ sự nhiệt tâm ủng hộ phong trào CCRĐ và tỏ lòng biết ơn quân đội nhân dân đang nắêm giữ quyền lực. Những người ghen tị về sự giàu có và thế lực của ông trước kia, giờ đây họ lấy làm thích thú khi được hạ nhục ông.”
Cuối cùng, nhà cửa ruộng vuờn của người cán bộ trên đây bị tịch thu, gia đình phải ở trong một túp lều bên ngọn đồi kế cận, và canh tác một khoảnh đất nghèo nàn sỏi đá do các đội viên cải cách cấp cho.
Không thể nghi ngờ về một vài vụ bạo động có liên quan đến phong trào CCRĐ là hậu quả tất nhiên và tự phát, do sự căm thù giai cấp phát xuất từ nông thôn. Những sự kiện như thế, đã trở nên rất quen thuộc, dù là một bi kịch, nhưng đó là sản phẩm phụ của cách mạng. Nhưng, có nhiều bằng chứng cho thấy lãnh đạo đảng là những người chịu trách nhiệm trong việc hoạch định và thực hiện kế hoạch. Người nhận lãnh trách nhiệm tổng quát là Tổng Bí Thư Trường Chinh, đã ra mặt ngưỡng mộ chính sách cải cách ruộng đất tại Hoa Lục , đã công khai lặp lại quan điểm của Mao Trạch Đông rằng CCRĐ phải được thực hiện dưới hình thức đấu tranh giai cấp, cùng với các ủy viên trung ương khác gồm có Hoàng Quốc Việt, thứ trưởng Canh Nông Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương, một nhân vật Mao-ít , có nhiều ảnh hưởng trong đảng và là một ủy viên trung ương từng kêu gọi phải chỉnh đảng để trong sạch hóa đảng. Theo chân Trung Cộng, các lãnh tụ vừa kể ước tính rằng từ 4 đến 5% dân số phải được liệt kê vào thành phần địa chủ, kẻ thù của giai cấp nông dân; mặc dù trên thực tế, tại nhiều làng, họ chỉ có một ít ruộng đất vừa đủ sống .
Sự bạo động trong phong trào CCRĐ đã làm Hồ Chí Minh ngạc nhiên, mặc dù ông có cùng quan điểm với thành phần quân sự; một trong những mục tiêu của phong trào CCRĐ là để tiêu diệt kẻ thù và những phần tử phản động tại nông thôn. Trong bài nói chuyện với các đội viên cải cách tại Thái Nguyên vào cuối năm 1994, ông tuyên bố CCRĐ là một công cuộc đấu tranh giai cấp:- Công tác quan trọng trong làng là vấn đề đoàn ngũ hóa nông thôn: ủy ban nhân dân xã, du kích xã, các đoàn thể nông dân, thanh niên và phụ nữ ...nếu những phần tử xấu còn trà trộn trong các đoàn thể ấy thì chúng ta không thể tiến hành công cuộc CCRĐ. Để tiến hành công cuộc CCRĐ, phải có những biện pháp thích hợp đối với các phần tử xấu. Bất cứ biện pháp nào xét thấy cần thiết để loại trừ, thủ tiêu họ, cứ thi hành. Nếu có thể cải tạo họ, cứ thi hành. Đây là một công tác quan trọng phải được hoàn tất bởi tập thể.
Mặc dù vậy, Hồ Chí Minh không đồng ý đối với hình phạt áp dụng chung cho mọi người: “ Để có những biện pháp thích đáng, không thể coi một đám đông đều là những người tốt hay toàn những người xấu; để biết rõ ai tốt ai xấu, phải dựa vào sự phán xét của tập thể.” Nói cách khác, đội viên cải cách phải học tập để phân biệt các thành phần địa chủ khác nhau. Mặt khác, phải biết là bọn họ cấu kết với nhau để bóc lột nông dân.
Hồ cũng chống đối biện pháp tra tấn. Ông nói với một số đội viên cải cách vẫn sử dụng hình phạt tra tấn, rằng đó là phuơng pháp dã man mà các phần tử đế quốc, tư bản và phong kiến áp dụng hầu dể bề làm chủ tập thể và đánh phá cách mạng. Chúng ta, những người đang tiến hành một phong trào công bình và chính đáng thì tại sao lại sử dụng những phương pháp tàn bạo như thế? ( Hồ Chí Minh toàn tập I, tr. 112-121 )
Sự khiển trách của Hồ Chí Minh về việc sử dụng những biện pháp tàn bạo không gây một ảnh hưởng nhỏ nào. Như tại Thái Nguyên, một địa chủ đã từng ủng hộ và trung thành với cách mạng trong nhiều năm, từng chứa chấp Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt trốn tránh thực dân Pháp; đã bị đội cải cách kết vào tội cường hào và lên án tử hình. Khi dân làng lên tiếng bênh vực bà, thì họ cũng bị kết án là tay sai của kẻ thù. Sau khi được báo cáo về trường hợp trên đây, Hồ Chí Minh đặt vấn đề với Trường Chinh, và nạn nhân được giãm án . Tuy nhiên, những trường hợp như thế này thật hiếm, và cho tới khi chiến dịch chấm dứt vào cuối năm 1956, hàng ngàn người bị xử tử và vô số người khác bị sách nhiễu, bị kết án, bị hạ nhục và bị dán nhãn là kẻ thù của nhân dân. Mặc dù Hồ Chí Minh đã lo sợ về hình phạt tàn bạo áp dụng chung cho tập thể trong chiến dịch CCRĐ, tuy nhiên dưới mắt của một quan sát viên Việt Nam, thì ông Hồ bị Mao Trạch Đông đe dọa, và sợ hãi không dám làm trái ý của các sĩ quan Trung Cộng đang đóng quân tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. ( Bùi Tín , Following Ho – tr.28-29 ; Vũ Thư Hiên - Đêm Giữa Ban Ngày, tr. 224 ; Moise – Land Reform,tr. 127 –128. )
Ngưng trích.
Nhận xét:
Trước hết, xin đề cập đến các tài liệu mà William J. Duiker tham khảo để viết về quyển sách nói chung, và phong trào CCRĐ nói riêng.
Trong lời mở đầu, William J. Duiker đã ngỏ lời cám ơn một cách trân trọng và chân thành đến các cơ quan cũng như những nhân sự trong bạo quyền CSVN đã giúp đở tác giả một cách tận tình, nhiệt tâm, cộng với một thái độ vô cùng tử tế và rộng lượng. Các cơ quan như Viện Sử Học, Viện Khoa Học Xã Hội, Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác-Lênin , Viện Đại Học Hà Nội, Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện bảo tàng Cách Mạng, Viện Bang Giao Quốc Tế , Thông tấn xã CSVN đã dành rất nhiều thì giờ và cung cấp đầy đủ tài liệu cho William J. Duiker để tác giả hoàn tất tiểu sử Hồ Chí Minh theo như ý muốn của ông từ thập niên 1960, với một cảm tình đặc biệt mà ông đã dành cho họ Hồ.
Trên nguyên tắc, khi đến Hà Nội vào những năm 1985, 1990 và 1993 để tìm tài liệu, William J. Duiker đã tìm đúng nguời, đúng chổ vào thời điểm thật đúng lúc để thu thập tài liệu cho “ tác phẩm” của ông. Nhưng chính ra, CSVN phải cám ơn ông thay vì ông cám ơn họ; vì bỗng dưng bạo quyền Hà Nội lại được một món quà quá bất ngờ và to tát từ trên trời rơi xuống.
Sở dĩ William J. Duiker không cần phải cám ơn CSVN về việc ông được tiếp đón nồng hậu và đối xử tử tế quảng đại, cũng không cần phải cám ơn CSVN đã cung cấp những tài liệu về Hồ Chí Minh; vì đây là một “ nghĩa vụ ” thiêng liêng mà CS Hà Nội phải thi hành đối với một người đang ra công thực hiện một công tác tuyên truyền vĩ đại và công không cho họ, đó là ca tụng “ sự nghiệp cách mạng ” của Hồ Chí Minh và đảng CSVN.
Nhưng, William J. Duiker đã không nhìn sự việc dưới góc cạnh như thế . Như đã nói, ông bị thuyết phục bởi nhân vật mà theo ông đã trở thành nguyên động lực thúc đẩy sự chiến đấu và tinh thần kỹ luật của Việt Cộng: đó là Hồ Chí Minh; và ông muốn tìm hiểu con người của Hồ Chí Minh dưới góc cạnh đó, bất chấp những sự thật lịch sử đã được phơi bày về bản chất tàn bạo và khủng bố trong con người thật của họ Hồ.
Điều này cũng không lạ, nếu nhìn lại trường hợp của nhân vật khủng bố nổi tiếng hiện nay là Osamar bin Laden. Những chứng cớ hùng hồn và cụ thể về hành động, lời nói của tên trùm khủng bố của thế kỷ thứ 21 này đã được phơi bày rõ ràng dưới ánh sáng mặt trời, nhưng những sự thật đó vẫn không đủ sức cản ngăn sự ngưỡng mộ của hàng chục triệu người đối với tên trùm khủng bố; thì đã sao?
Một điều trớ trêu, buồn cuời và có thể nói là phản khoa học ở đây, là cách sử dụng những “ tài liệu lịch sử ” để hoàn tất quyển sách của William J. Duiker. Nói trắng ra, nó chỉ là sự xào đi nấu lại những tài liệu của cộng sản Nga, Tàu, Pháp và Việt để sản xuất ra món ăn < Ho Chi Minh: A Life >.
Nói cách khác, < Ho Chi Minh: A Life > là một sản phẩm “ lộn kiếp ”.
Thế nào là “ lộn kiếp ”?
Ở thôn quê, nông dân từ trẻ tới già ai cũng biết ổi lộn kiếp và ớt lộn kiếp. Hạt ổi và hạt ớt là hai loại hạt không thể tiêu hóa. Khi người ta ăn ổi hay ăn ớt mà không nhai kỹ, hoặc chim chóc mổ trái ổi chín hay trái ớt chín để ăn, khi đi tiêu thì hạt vẫn còn nguyên ( chúng tôi thành thật xin lỗi quí vị độc giả) . Nếu những hạt này gặp những điều kiện thuận lợi, như rơi đúng vào chổ đất màu mở, có đủ độ ẩm, thì chúng sẽ nảy mầm và sản xuất ra những cây mới. Cây này cũng lớn lên và cũng ra hoa, sinh quả như cây bình thường, nhưng đặc biệt , nếu là ổi thì trái sẽ ngon ngọt hơn, nếu là ớt thì sẽ cay hơn. Rồi thì người ta và chim chóc lại ăn những trái này và có thể sản xuất những cây lộn kiếp đời thứ hai, thứ ba, thứ tư v. v....
Thật vậy, William J. Duiker đã sử dụng rất nhiều tài liệu “ lộn kiếp” của cộng sản viết về Hồ Chí Minh để hoàn thành tác phẩm nói về cuộc đời của Hồ Chí Minh, trong đó có cả những tài liệu do chính Hồ Chí Minh tự viết về mình dưới bút hiệu Trần Dân Tiên và T. Lan.
Riêng trong đoạn viết về CCRĐ, ngoài một ít tài liệu của ngoại quốc, William J. Duiker đã dùng Hồ Chí Minh Toàn Tập và sách của Bùi Tín, Vũ Thư Hiên. Vì thế, những lập luận bênh vực Hồ Chí Minh đã được William J. Duiker rập khuôn lại như sau:
1- Hồ Chí Minh không phải là thủ phạm chính trong phong trào CCRĐ. Thủ phạm chính là các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương
2- Hồ Chí Minh là một người nhân hậu không chấp nhận các biện pháp tàn bạo, tra tấn trong phong trào CCRĐ.
3- Chỉ thị của Hồ Chí Minh không được địa phương tuân hành.
4- Hồ Chí Minh bị Mao Trạch Đông đe dọa và sợ hãi các sĩ quan cố vấn Trung Cộng.
5- Đội viên cải cách là những người ngoài, không thuộc đảng. Chỉ riêng điểm này cho thấy thủ đoạn đánh tráo sự thật một cách trắng trợn của Hồ Chí Minh và CSVN. William J. Duiker đã hoàn toàn bị lừa và bị lùa vào bẩy một cách dể dàng vì sự thật thà ngớ ngẩn và dễ tin của ông ta. Sự thật, những đội viên cải cách là những đứa con cưng của đảng.
Tất cả 5 điểm trên đây là những lập luận ngụy biện và đầy giả trá nhằm biện hộ cho Hồ Chí Minh, chính danh thủ phạm của những tội ác tày trời trong phong trào CCRĐ.
William J. Duiker đã làm một cái loa vang vọng lại những gì mà những người cộng sản đã nói về phong trào CCRĐ, trong đó những điểm then chốt hoàn toàn không đúng với sự thật.
Ông ta đã “ nhơi” lại những gì mà CSVN “ nhả ” ra.
Toàn là những dữ kiện lộn kiếp !
Tháng 12/2002
Nguyễn thị Bé Bảy