Hoa Kỳ và Trung Cộng xác định thái độ tại Biển Đông
PhoNang 2011/11/29
The US and China in confrontation in Asia. Who wins ?
Hoa Kỳ và Trung Cộng xác định thái độ tại Biển Đông
Nguyên tác: Giáo sư Carl Thayer
Lời giới thiệu: Tháng 7/2010 có hai biến chuyển đáng quan tâm tại Á châu. Thứ nhất, hội nghị của Diễn Đàn An Ninh Á châu (Asean Regional Forum – ARF) họp thường niên tại Hà Nội. Tại hội nghị, Hoa Kỳ tuyên bố chính sách mới tại Biển Đông. Thứ hai, Hải quân Hoa Kỳ và Nam Hàn tập trận tại vùng biển chung quanh bán đảo Triều Tiên (1) .
Trước đó cũng trong tháng 7/2010, giáo sư Carlyle Thayer ở Úc viết bài “The United States and Chinese Assertiveness in the South China Sea” (Hoa Kỳ và Trung cộng xác định thái độ tại Biển Đông) với đầy đủ chi tiết về sự tranh chấp Biển Đông giữa Trung cộng, Việt Nam và Hoa Kỳ. Tài liệu ngắn gọn, nhưng súc tích giúp cho những ai muốn tìm hiểu về các vấn nạn của Biển Đông trong mấy chục năm qua.
Sau đây là bản lược dịch. Gíao sư Thayer bắt đầu bài viết bằng cách nói đến sự quan trọng của căn cứ Hải quân Trung cộng tại Hải Nam và vụ tàu Trung cộng chận đường chiến hạm Impeccable của Hải quân Hoa Kỳ và những lời tuyên bố chủ quyền của Trung cộng trên Biển Đông. Ba động tác này là một thách thức các nước chung quanh vùng Biển Đông và Hoa Kỳ. Gíao sư Thayer đưa ra 3 nguyên nhân gỉải thích tại sao Trung cộng lại có thái độ giành quyền kiểm sóat Biển Đông. Và sau cùng đưa ra 7 đề nghị giúp giải quyết căng thẳng tại đó .
Bối cảnh
Giáo sư Carl Thayer
Với chính sách chính thức tuyên bố là “hòa bình, hợp tác và phát triển” (peace, cooperation and development) Trung cộng đã theo đuổi chủ thuyết tạo một thế giới “hài hòa” (harmonious world) qua đường phát triển kinh tế và góp phần duy trì hòa bình thế giới.
Trung cộng rất thành công trong chính sách kinh tế nhắm vào xuất cảng là chính, và việc này đòi hỏi năng lượng. Hai nhu cầu, phát triển kinh tế và đầy đủ năng lượng đòi hỏi Trung cộng lo bảo đảm sự lưu thông của các đường biển huyết mạch gần lục địa Trung cộng. (Sea Lines of Communications – SLOCs).
Mặc dù thế giới đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế, ảnh hưởng kinh tế của Trung cộng vẫn rất mạnh trong vùng. Trung cộng đặc biệt có vị thế quan trọng vì Trung cộng là chủ nợ 2 trillion mỹ kim mà con nợ là Hoa Kỳ.
Để giúp giải quyết khủng hoảng kinh tế thế giới Trung cộng giải tỏa ngân khoản kích thích kinh tế (stimulus package) trong nước, chính yếu trong ngành xây cất và ngoài nước bỏ nhiều tiền đầu tư làm cho Trung cộng càng có uy thế khi kinh tế thế giới vãn hồi dần.
Nhờ sức mạnh kinh tế, Trung cộng cải tiến trang bị quân đội như tăng cường hỏa tiễn đặt trên đất liền và trên biển đồng thời cải thiện kho vũ khi nguyên tử để đối đầu với kho vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ.
Trung cộng còn phát triển hỏa tiễn tầm ngắn và tầm trung dùng vào việc tấn công Đài Loan trường hợp Đài Loan tuyên bố độc lập. Đồng thời Trung cộng tăng cường sức mạnh của Hải quân để bảo vệ các đường giao thông trên biển và bảo đảm không ai có thể chận eo biển Malacca.
Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc châu từng nhận xét rằng sự phát triển quân lực Trung cộng vượt ngoài nhu cầu tự vệ, và ngân sách quốc phòng Trung cộng công bố chỉ là một phần của ngân sách thực chi . Từ năm 1997 đến nay ngân sách quốc phòng Trung cộng tăng 500%. Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Bộ Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ nói rằng Trung cộng đặc biệt tăng cường lực lượng Hải quân nhằm có khả năng đối phó với các căn cứ Hải quân Hoa Kỳ trong vùng Á châu.
Các nhà nghiên cứu chiến lược cho rằng Trung cộng đang nới rộng vòng đai phòng thủ tại tây Thái Bình Dương ra vòng đảo ngoài Biển Nhật Bản, Biển Phi Luật Tân và Biển Nam Dương bao gồm cả quần đảo Marianas và Palau tiến sát đến đảo Guam của Hoa Kỳ. Tháng Ba & tháng Tư vừa qua (2010) Hải quân Trung cộng cho tập trận tại phía Nam đảo Okinawa.
Cuộc tập trận đầu tiên trong tháng Ba gồm 6 chiến hạm thuộc Hạm đội Bắc hải tập đánh nhau với Hạm đội Nam hải. Sau đó Hạm đội Bắc hải băng qua eo biển Bashi phía bắc Phi Luật Tân vào neo tại Fiery Cross Reef thuộc quần đảo Trường Sa trước khi tiếp tục tập trận tại phía đông eo biển Malacca.
Cuộc tập trận thứ hai gồm 10 chiến hạm thuộc Hạm đội Đông hải diễn tập tại phía đông bờ biển Đài Loan cùng với máy bay căn cứ trên đất liền tập tiếp tế nhiên liệu trên không, bay đêm, bay tránh radar và thực tập oanh tạc trên biển.
Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương nói sự phát triển lực lượng của Trung cộng làm thay đổi cán cân quân sự trong vùng Thái Bình Dương.
Quan hệ giữa Trung cộng và Hoa Kỳ là quan hệ vừa tranh đua vừa hợp tác, trong đó Đài Loan chiếm một vị trí quan trọng. Trong nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Bush, quan hệ giữa hai bên có chiều dịu xuống, nhưng trong những tháng 9 & 10/2008 Trung cộng ngưng các chương trình hợp tác quân sự khi Hoa Kỳ quyết định bán 6.5 tỉ mỹ kim vũ khí cho Đài Loan. Sau khi tổng thống Obama đắc cử, Trung cộng tiếp nối lại quan hệ quân sự. Bộ trưởng ngoại giao hai nước thăm viếng qua lại. Tổng thống Obama và Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư đảng cộng sản Trung cộng Hồ Cẩm Đào gặp nhau không chính thức qua các buổi họp G-20 tại Luân Đôn và Pittsburgh. Cuối năm 2009 tổng thống Obama chính thức thăm viếng Bắc Kinh. Trước khi lên đường tổng thống Obama nói ông cho rằng sự vươn lên của Trung cộng không có tính đe dọa ai. Tuy nhiên đầu năm 2010, ông Obama chấp thuận một đợt bán vũ khí khác cho Đài Loan và Trung cộng lại ngưng các chương trình hợp tác quân sự.
Ý nghĩa chiến lược của căn cứ Hải quân Yulin
Năm 2007 vệ tinh dân sự của Anh khám phá Trung cộng xây cất gần xong một căn cứ Hải quân lớn tại Yulin gần thành phố Sanya nằm ở cực nam đảo Hải Nam. Khi hoàn tất căn cứ này có khả năng đưa Hải quân Trung cộng vào hoạt động tại Thái Bình Dương và Biển Đông.
Các hình chụp được cho thấy các hầm và cầu tàu tại Yulin có khả năng đồn trú nhiều chiến hạm và tàu ngầm. Các cầu đang xây có khả năng làm chỗ đậu cho các chiến hạm tấn công loại lớn và hàng không mẫu hạm.
Đồng thời Trung cộng cho cải tiến phi trường tại đảo Woody trong quần đảo Paracels và xây một đài radar tại Fiery Cross Reef trong quần đảo Trường Sa, và các đơn vị Hải quân khác hiện diện gần như thường trực tại Mischief Reef ở phía tây Phi Luật Tân. Các căn cứ và cơ sở này cho Trung cộng khả năng bảo vệ quyền “tự biên tự diễn” của mình trên Biển Đông, và sự giao thông qua lại của hai eo biển Malacca và Singapore.
Căn cứ Yulin giúp rút ngắn đường tiếp vận cho hạm đội Trung cộng hoạt động trong Biển Đông và gián tiếp đe dọa sự tự do lưu thông của thương thuyền các nước Nhật, Đài Loan và Nam Hàn.
Một phần căn cứ Yulin nằm dưới hầm không thể chụp hình bằng vệ tinh, nên không thể xác định được khả năng thật sự của nó. Phần chụp được cho thấy căn cứ Yulin đã có khả năng đồn trú tàu ngầm mang hỏa tiễn liên lục địa. Cuối năm 2007 người ta thấy tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ hai thuộc Loại Jin 095 tại căn cứ Yulin. Trước đây loại tàu ngầm này chỉ có mặt trong Hạm đội Bắc hải.
Khi Yulin hoàn tất căn cứ này sẽ là căn cứ tàu ngầm tấn công của Hải quân Trung cộng. Hiện nay Trung cộng chưa đóng xong các tàu ngầm tối tân, nhưng khi xong Trung cộng có tàu ngầm mang 12 hỏa tiễn có khả năng phóng ngoài biển. Và đây là lực lượng đáng quan ngại khi Trung cộng trang bị chúng với hỏa tiễn nhiều đầu đạn nguyên tử. Chung quanh đảo Hải Nam là vùng nước sâu nên tàu ngầm Trung cộng có thể ẩn náu để phóng hỏa tiển một cách kín đáo. Theo Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ Trung cộng sắp hoàn tất 5 tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiễn (SSBN), một số sẽ được đồn trú tại Yulin.
Căn cứ Yulin như vậy có khả năng thay đổi cán cân lực lượng trên Biển Đông và là một trở ngại cho sự đi lại của Hải quân Hoa Kỳ (theo nhận xét của Đô đốc Willard) cũng như của Hải quân các nước chung quanh Biển Đông như Việt Nam và Phi Luật Tân.
Trung cộng quấy nhiễu tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ
Tháng Hai-Ba 2009 chiến hạm Hoa Kỳ USNS Impeccable đang làm công tác dò đáy biển tại một vùng cách mũi nam đảo Hải Nam 75 hải lý để đo lường khả năng hoạt động của tàu ngầm Trung cộng xuất phát từ căn cứ Yulin thì ngày 5/3 một chiến hạm nhỏ của Trung cộng chạy chận đầu không quá 100 mét mà không báo trước bằng vô tuyến. Hai giờ sau một máy bay quân sự Trung cộng lọai Y-12 bay thật thấp trên chiếc Impeccable, và chiến hạm Trung cộng trở lại chận đầu chiếc Impeccable lần này cách xa khỏang từ 400 đến 500 mét.
Ngày 7/3 một chiến hạm thu thập tin tức tình báo của Hải quân Trung cộng đến sát chiếc Impeccable dùng vô tuyến liên lạc với đài chỉ huy yêu cầu chiếc Impeccable rời vùng hoạt động nếu không “sẽ lãnh hậu quả”. Hôm sau 8/3 Trung cộng cho 5 chiếc tàu bám theo chếc Impeccable (một chiếc thuộc sở kiểm ngư, một chiếc thuộc Viện hải học, một chiến hạm tuần duyên và hai chiếc giả cào (trawler) (2). Hai chiếc trawler tiến sát chiếc Impeccable 15 mét phất cờ Trung cộng bảo Impeccable rời khỏi khu vực tức khắc. Chiếc Impeccable dùng vòi phun nước đuổi tàu Trung cộng. Sau đó chiếc Impecable yêu cầu tàu Trung cộng tránh đường để rời khu vực an toàn tránh tạo khủng hoảng. Có lúc chiếc Impeccable phải ra lệnh lùi máy để tránh húc vào hai chiếc trawler. Khi Impeccable rời vị trí, ngư phủ các chiếc trawler dùng câu móc định cắt đứt dây kéo máy dò đáy biển (Sonar) của tàu Impeccable.
Ngày 11/6 Hải quân Trung cộng lại gây sự với Hải quân Hoa Kỳ khi cho tầu ngầm tìm cách cắt máy Sonar của chiếc USS John S. McCain khi chiếc tàu này đang thao dượt với hải quân Nam Dương và Phi Luật Tân
Hai cuộc đụng chạm này cho thấy với thái độ của Trung cộng Biển Đông có thể là nơi bùng phát những sự cố bất ngờ.
Trung cộng xác định thái độ chủ quyền tại Biển Đông.
Từ năm 2007 Trung cộng đã làm một số hành động đụng chạm chủ quyền của Việt Nam.
Thứ nhất: Trung cộng áp lực các hãng dầu Hoa Kỳ ngưng tiến hành các giao kèo khai thác dầu khí ký với Việt Nam trong vùng “gọi là tranh chấp” trong Biển Đông.
Thứ hai: Trung cộng đơn phương cấm đánh cá trong Biển Đông.
Thứ ba: Trung cộng phản đối với Liên hiệp quốc khi Việt Nam và Mã Lai Á nộp hồ sơ xác định “vùng biển nối dài” chung của hai nước. Đồng thời Trung cộng đòi chủ quyền trên Biển Đông bằng cách đơn phương công bố một bản đồ gồm 9 đường chấm chấm (họp lại thành hình thù như một cái lưỡi bò) choán trọn 80% Biển Đông.
Năm 2007 Việt Nam vạch kế hoạch phát triển vùng biển, dự kiến đến năm 2020 vùng này sẽ đóng góp 55% GDP quốc gia và 55-60% hàng hóa, phẩm vật xuất cảng. Trung cộng âm thầm áp lực các công ty Hoa Kỳ đang tính toán đầu tư vào vùng biển Việt Nam, trong đó có công ty ExxonMobil, rằng nếu ký giao kèo với Việt Nam các công ty này sẽ mất quyền lợi làm ăn với Trung cộng.
Năm 2009 và 2010 Trung cộng đơn phương ra lệnh cấm đánh cá trên vĩ tuyến 12 từ 15-5 đến 1-8. Trung cộng nói mục đích cấm để cho cá sinh đẻ, để chận nạn đánh cá lậu và bảo vệ quyền lợi của ngư dân Trung cộng. Thời gian cấm là mùa đánh cá hằng năm của ngư dân Việt Nam.
Năm 2009 Trung cộng phái 9 chiếc tàu thuộc sở Bảo vệ Ngư nghiệp chạy tuần tra để thi hành lệnh cấm. Tàu Trung cộng chận bắt, lấy cá và đuổi thuyền bè ngư dân Việt Nam ra khỏi khu cấm. Có một lần tàu Trung cộng húc chìm một thuyền đánh cá Việt Nam. Ngày 16/7 Trung cộng bắt giữ 3 thuyền đánh cá của Việt Nam và 37 ngư dân gần đảo Paracels. Sau khi thả 2 thuyền, Trung cộng giữ lại thuyền thứ ba với 12 ngư dân đòi 31700 mỹ kim tiền phạt. Chính quyền tỉnh Quảng Ngãi (nơi xuất phát các thuyền đánh cá bị bắt) không chịu đóng tiền phạt. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối qua tòa đại sứ Trung cộng tại Hà Nội.
Lợi dụng hai bộ Thương Mãi Việt Nam và Trung cộng có chung một Trang Nhà, Trung cộng cho đăng một bản tin phản đối chính quyền Việt Nam (TBN: làm như Việt Nam tự chữi mình!). Khi nhận ra việc dối trá này của Trung cộng, Bộ Thương Mãi Việt Nam cho đóng trang nhà chung.
Chưa hết, tháng 8 khi hai thuyền đánh cá và 25 ngư dân Việt Nam chạy vào tránh bảo tại Paracels, Trung cộng giam thuyền và giam giữ các ngư dân. Lần này Việt Nam phản ứng mạnh mẽ đòi hủy bỏ các phiên họp chung để thảo luận về các vấn đề khai thác ngoài biển đã lên lịch. Trung cộng thả các ngư dân.
Tháng 4/2010 Trung cộng lại ban hành lệnh cấm như năm trước và hai chiếc tàu Yuzheng 311 và tàu tuần duyên 202 của Hải quân Trung cộng đã được phái đến bênh vực cho ngư dân Trung cộng nói là bị lực lượng Hải quân Việt Nam xách nhiễu. Các thuyền đánh cá Việt Nam dùng chiến thuật bao vây gây trở ngại vận chuyển cho tàu Yuzheng 311. Khi Trung cộng gởi thêm chiến hạm tới, các thuyền đánh cá Việt Nam rút đi.
Ủy ban Liên hiệp quốc về Thềm Lục Địa nối dài (Commission on the Limits of the Continental Shell –CLCS) đã định ngày 13/5/2009 là ngày cuối cùng để các quốc gia ven biển trên thế giới nộp bản khai Thềm Lục Địa Nối Dài theo một điều khoản của Luật Biển (UN Convention of Law of the Sea – UNCLOS). Ngày 6/5 Việt Nam và Mã Lai nộp một bản khai cho vùng chung phía Nam, và ngày 7/5 Việt Nam nộp một bản riêng trong vùng phiá Bắc (3).Trung cộng lập tức gởi một văn thư phản kháng đến Liên hiệp quốc (nhưng không nộp bản khai của mình theo tinh thần Luật Biển). Việt Nam gởi văn thư phản đối văn thư của Trung cộng.
Ngay sau đó Trung cộng (như đã nói ở trên) cho công bố một bản đồ gồm 9 đường chấm chấm mơ hồ họp thành một hình chữ U bao trọn Biển Đông nói là vùng biển chủ quyền. Trong 3 bản tuyên bố trước đây (9/1958 về lãnh hải, 1992 về lãnh hải và vùng lân cận, 1996 về đường chuẩn cho lãnh hải) và một bộ luật ban hành năm 1998 về thềm lục địa Trung cộng chưa bao giờ có một đòi hỏi có tính tự tác tự thọ như vậy.
Những hành động của Trung cộng làm Hoa Kỳ quan tâm và thấy cần điều chỉnh thái độ để bảo vệ quyền thương mãi và uy tín của mình. Thái độ của Hoa Kỳ trước đây là không can thiệp vào việc tranh chấp biển đảo giữa các nước trong vùng, và chỉ đặt quan tâm chính vào việc an toàn và tự do lưu thông trên biển.
Những tháng đầu của chính quyền Obama, Trung cộng và Phi Luật Tân bất hòa khi Phi vạch đường căn bản qua các hải đảo Trung cộng gởi chiến hạm tới có ý đe dọa, tổng thống Obama đã ủng hộ Phi bằng cách điện thoại cho bà tổng thống Phi Gloria Macapagal Arroyo xác định rằng Hoa Kỳ vẫn tôn trọng thỏa ước về tàu bè thăm viếng (Visiting Forces Agreement) giữa Hoa Kỳ và Phi.
Tháng 7/2009 Hoa Kỳ xác định quan điểm tại Biển Đông trước quốc hội. Chính phủ gởi hai ông Scot Marciel (Phụ tá bộ trưởng ngoại giao) và Robert Scher (Phụ tá bộ trưởng quốc phòng) đến điều trần trước Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương. Ông Marciel tuyên bố một cách dứt khoát rằng những tuyên bố về biển của Trung cộng tại Biển Đông không có một cơ sở quốc tế nào cả.
Ông Marciel nói với quốc hội rằng Hoa Kỳ có “lợi ích thiết yếu” (vital interest) khi duy trì sự ổn định, tự do lưu thông và bảo vệ quyền buôn bán của mình tại Đông Á. Ông Marciel sau khi tóm tắt cho quốc hội biết việc Trung cộng de dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ định làm ăn với Việt Nam đã khẳng định: “Chúng ta cương quyết chống lại mọi de dọa các công ty Hoa Kỳ.”
Về việc tàu Trung cộng quấy nhiễu hoạt động của Hải quân Hoa Kỳ ngoài khơi đảo Hải Nam ông Scher xác định thái độ 4 điểm của Hoa Kỳ:
1.Bằng lời và bằng hành động Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện trong vùng.
2.Hải quân Hoa Kỳ quả quyết duy trì quyền lưu thông trên biển.
3.Quan hệ an ninh với các nước trong vùng qua các cuộc nói chuyện về chính sách và chiến lược và hợp tác bảo đảm an toàn trên biển.
4. Tăng cường quan hệ ngoại giao – quân sự với Trung cộng để tránh đụng chạm do sự hiểu lầm.Khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung cộng căng thẳng Việt Nam trở nên gần gũi với Hoa Kỳ hơn. Tháng 6/2008 thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Hoa Kỳ và hội kiến với tổng thống Bush. Thủ tướng Dũng là vị thủ tướng Việt Nam đầu tiên đến viếng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ sau năm 1975. Trong một thông cáo chung sau chuyến viếng thăm hai bên đồng ý duy trì các cuộc gặp gỡ cao cấp về an ninh và chiến lược. Ngoài ra tổng thống Bush còn tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ “chủ quyền, an ninh và sự tòan vẹn lãnh thổ của Việt Nam” (nguyên văn: the US supports “Vietnam’s national sovereignty, security and territorial integrity”.
Lời tuyên bố của tổng thống Bush không nói đến Biển Đông. Tuy nhiên người ta hiểu rằng đấy là một cách nói tiếp theo lời tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates trước đó vào đầu năm tại Singapore rằng: “Trong chuyến đi Á châu, tôi nghe nhiều quốc gia nói vê` tình trạng an ninh trong vùng do nhu cầu tài nguyên thiên nhiên và than phiền những chính sách ngoại giao có tính áp lực làm cho tình hình trong vùng trở nên phức tạp … Chúng ta nên tránh thái độ có tính áp lực mặc dù được che dấu dưới lớp vỏ hợp tác”. (TBN: Ai cũng biết bộ trưởng Robert Gates nói tới Biển Đông và thái độ đại hán của Trung cộng)
Các lời tuyên bố của Bộ trưởng Gates, của tổng thống Bush và của ông phụ tá ngoại giao Marciel là những lời nhắn nhủ Trung cộng rằng họ không nên đe dọa các công ty Hoa Kỳ định làm ăn với Việt Nam trên Biển Đông.
Quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng được cải thiện hơn từ năm 2008. Tháng 10/2008 bộ Ngoại giao Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu nói chuyện cấp cao về chính trị - quân sự. Tháng 4/2009 một số sĩ quan cao cấp Việt Nam được máy bay Hoa Kỳ chở đến mẫu hạm USS John Stennis để quan sát lực lượng Hải Không Quân thao dượt. Tháng 8/2009 và tháng 3/2010 cơ sở sửa tàu của Việt Nam sửa chữa các tàu hải quân Hoa Kỳ thuộc lực lượng vận tải đường biển (US Navy Military Sealift Command). Cuối năm 2009 bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh viếng thăm Hoa Thịnh Đốn và gặp bộ trưởng Gates tại Bộ quốc phòng. Trên đường đi tướng Thanh ghé Hawai thăm Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ tại Thái bình Dương. Theo chương trình, trong những tháng cuối năm 2010 này các giới chức quân sự cao cấp Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ gặp nhau. Tờ Quadrennial Defence Review năm 2010 viết rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam và Indonesia là hai đối tác chiến lược quan trọng.
Những trở lực trong mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung cộng
Sau khi nhậm chức chính quyền Obama mở đầu quan hệ với Trung cộng qua cuộc họp song phương bàn về Chiến lược và Kinh tế (Strategic and Economic Dialogue - SED) trong tháng 7/2009 tại Hoa Thịnh Đốn. Buổi họp sau đó tổ chức tại Bắc Kinh tháng 5/2010.
Tháng 8/2009 bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates tiếp tướng Xu Caihou, Phó chủ tịch Quân ủy trung ương của quân đội Trung cộng tại Pentagone. Tướng Xu Caihou còn gặp Cố vấn an ninh quốc gia James Jones, Tham mưu trưởng Liên quân Đô đốc Michael Mullen, thứ trưởng ngoại giao James Steinberg và thăm xã giao tổng thống Obama.
Ông Gates và tướng Xu đồng ý một chương trình 7 điểm:
1. Thăm viếng cấp cao.
2. Hợp tác nhân đạo và giúp đỡ nhau khi có thiên tai.
3. Trao đổi hiểu biết y học quân sự.
4. Trao đổi để hiểu nhau hơn giữa các sĩ quan cấp Tá và cấp Úy
5. Trao đổi văn hóa và thể thao giữa hai quân đội.
6. Tăng cường các cuộc thăm viếng ngoại giao.
7. Trao đổi hiểu biết về cách thức tăng cường an toàn trên biển.Tuy nhiên tướng Xu nêu ra 4 trở lực chính trong mối quan hệ Mỹ Trung gồm:
1. Quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Đài Loan. Nếu Hoa Kỳ khắng khít quân sự với Đài Loan thì quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung cộng khó được cải thiện.
2. Tàu bè và máy bay của Hoa Kỳ không nên vào khu đặc quyền kinh tế của Trung cộng. Hoa Kỳ nên tôn trọng Luật Biển và các luật về biển của Trung cộng
3. Một số luật của Hoa Kỳ làm trở ngại quan hệ Hoa Kỳ-Trung cộng như Luật “Defense Authorization Act” thông qua năm 1999
4. Hoa Kỳ còn nghi ngờ thiện chí chiến lược của Trung cộng.
Tháng Ba/2010 Trung cộng nói với hai viên chức Hoa Kỳ thăm viếng Trung cộng rằng Trung cộng xem Biển Đông là vùng có “quyền lợi thiết yếu” (core interest) của Trung cộng. Đây là lần đầu tiên Trung cộng đưa Biển Đông lên hàng “quyền lợi thiết yếu” như Đài Loan và Tây Tạng với ý nghĩa nếu bị xâm phạm Trung cộng sẽ dùng vũ lực để bảo vệ.
Có nhiều lý do giải thích tại sao gần đây Trung cộng khẳng định lập trường đòi chủ quyền của mình trên Biển Đông.
Thứ nhất, Trung cộng muốn áp lực Việt Nam cùng với Trung cộng khai thác dầu khí chung trong vùng biển ngoài khơi trên nguyên tắc thuộc Việt Nam. Nếu quả thật vậy thì Trung cộng khó đạt được ý đồ của mình vì Việt Nam không dễ gi để Trung cộng hưởng lợi những gì nằm trong (hay sát với) vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của mình. Trước đây Trung cộng áp lực các công ty nước ngòai không ký giao kèo khai thác dầu khí với Việt Nam cũng trong mục đích này (và tạm thời thành công). Hai công ty BP của Anh và ExxonMobil của Mỹ đã tạm ngưng khai thác theo giao kèo, nhưng gần đây cho biết sẽ tiếp tục tiến hành giao kèo đã ký. Hoa Kỳ đã cho Trung cộng biết Hoa Kỳ không chấp nhận ai làm áp lực với các công ty Hoa Kỳ làm ăn hợp luật lệ quốc tế .
Thứ hai, Trung cộng muốn cho Việt Nam thấy sự bất mãn khi biết Việt Nam hình như đang chuẩn bị mang việc xích lại với Hoa Kỳ ra bàn thảo trong đại hội 11 của đảng vào năm 2011. Từ năm 1995 sau khi thiết lập bang giao với Hoa Kỳ Việt Nam vẫn rất dè dặt trong quan hệ với Hoa Kỳ vì ngại làm mất lòng Trung cộng. Nhưng từ năm 2003 về sau áp lực trên Biển Đông của Trung cộng càng mạnh thì Việt Nam càng bớt dè dặt khi xích lại với Hoa Kỳ.
Cuối năm 2007 khi Trung cộng thành lập quận huyện bao gồm cả Trường Sa, sinh viên Việt Nam tại Sài gòn và Hà Nội đã biểu tình phản đối và Trung cộng đã mạnh mẽ áp lực Việt Nam ngăn cấm các cuộc biểu tình. Qua năm 2008 sự chống đối của nhân dân trong nước trước ý đồ lấn chiếm của Trung cộng lên cao và cao điểm là năm 2009 khi tướng Võ Nguyên Giáp lên tiếng cho rằng vụ Trung cộng khai thác mỏ Bauxite ở cao nguyên Việt Nam là có hại cho an ninh quốc gia. Đảng cộng sản Việt Nam nhận ra rằng khuynh hướng chống Trung cộng trong nước là một đe đọa cho sự lãnh đạo của đảng cộng sản nếu họ không có chương trình đáp ứng.
Những nhà quan sát tình hình Việt Nam đồng ý rằng nội bộ lãnh đạo Việt Nam có hai khuynh hướng. Một muốn mở rộng quan hệ quốc tế để hội nhập rộng rãi. Một muốn thắt chặt quan hệ với Trung cộng. Và Trung cộng tỏ thái độ cứng rắn trên Biển Đông để cảnh cáo Việt Nam rằng theo họ thì có lợi hơn là chống họ. Nhưng hình như trước tình cảm chống Trung cộng của nhân dân nhóm thứ hai chủ trương thân Trung cộng cũng phải đồng ý cần tìm một con đường quốc phòng khác hơn là dựa vào Trung cộng.Thứ ba, chính sách Biển Đông của Trung cộng có thể do nhu cầu năng lượng. Làm chủ được Biển Đông có nghĩa là làm chủ một kho dầu khổng lồ và bảo đảm một đường lưu thông quan trọng trên biển. Trung cộng đã cải tiến thiết bị Hải quân và thiết lập căn cứ ở Yulin trong mục đích này.
Năm 2002 khối Asean và Trung cộng ký bản “Tuyên bố về Cách ứng xử trên Biển Đông” (Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea) đồng ý “tự chế và thận trọng trong các hoạt động để tránh gây ra tranh chấp” (self restraint in the conduct of activities that would complicate or escalate disputes). Tuy nhiên tình hình an ninh trên Biển Đông càng căng thẳng và trở nên cấp bách trong ba năm qua. Sự đụng chạm giữa Hải quân Trung cộng và Hải quân Hoa Kỳ tại phía Nam đảo Hải nam cho thấy Biển Đông có thể là nơi “tóe ra lửa” nếu các bên liên hệ thiếu thận trọng.
Để kết thúc bản Tài liệu về tranh chấp Biển Đông, giáo sư Thayer đề nghị một giải pháp 7 điểm để giảm căng thẳng trên Biển Đông:
1 - Trung cộng cần thảo luận với các nước trong vùng về quyền đánh cá và chấm dứt việc đơn phương cấm đánh cá vùng này vùng khác hằng năm một cách tùy tiện.2 - Cần chi tiết hóa việc thi hành bản “Tuyên bố về Cách ứng xử trên Biển Đông” ký năm 2002.
3 - Trung cộng và Hoa Kỳ cần có một bản văn Thỏa Thuận về đụng chạm trên biển (Incidents At Sea Agreement) để tránh đụng chạm trên biển ngoài ý muốn.
4 - Các nước có vũ khí nguyên tử, nhất là các nước trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc cần tham gia vào “Hiệp Định Xác lập vùng Phi nguyên tử Đông Nam Á” (Southeast Asia Nuclear Free Weapons Zone Treaty). Trung cộng hứa sẽ tham gia (nhưng chưa ký). Hiệp hội Asean cần xác định vùng nam đảo Hải Nam có nằm trong vùng địa lý áp dụng của Hiệp Định này không ?
5 - Các nước trong vùng chung quanh Biển Đông cần thảo luận ở cấp cao cách thi hành Luật Biển để tránh sự tranh chấp về nội dung các bản khai nộp Liên hiệp quốc liên quan đến thềm lục địa nối dài và xác định rõ ràng Hải quân các nước có quyên hoạt động gì trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác.
6 - Hội nghị các bộ trưởng quốc phòng khối Asean + tại Hà Nội sắp đến cần tạo sự tin cậy và đề ra các biện pháp đề phòng tại Biển Đông.
7 - Các nước trong vùng cần thảo luận để thành lập một cơ chế gặp nhau thường xuyên giữa các lãnh tụ quốc gia để thảo luận những vấn đề còn cấn cái giữa các nước liên quan đến an ninh trong vùng./.
EU muốn hòa giải tranh chấp Biển Đông
Liên minh châu Âu cho biết sẵn sàng trở thành nhân tố "cân bằng" hữu ích trong diễn biến ở Biển Đông, có thể đóng một vai trò hòa giải tranh chấp lãnh thổ.
Đề cập về quan hệ EU - Đông Nam Á tại cuộc họp ở trụ sở EU mới đây, phó phụ trách ban Đông Nam Á thuộc cơ quan đối ngoại châu Âu Philippe van Amersfoort nói, EU hoan nghênh bất kỳ đề nghị nào từ ASEAN để giúp giải quyết tranh chấp.
“Trong diễn biến tình hình chiến lược này, EU có thể là nhân tố cân bằng hữu ích", ông Van Amersfoort nói. "EU sẵn sàng đóng một vai trò hòa giải. Đó là một thách thức ở phía EU. Chúng tôi thực sự hy vọng không còn sự leo thang nữa".
Ảnh: Middlebury
Ông nói hội nghị thượng đỉnh Đông Á vừa qua tại Bali đã chứng kiến rất nhiều tư duy chiến lược của ASEAN trước quyết định của Trung cộng, Mỹ để tham gia nhiều hơn trong khu vực, cảm giác lo lắng của một số nước thành viên ASEAN và vai trò mà Trung cộng đang mang trên vũ đài thế giới.
Ông Van Amersfoort nhấn mạnh, EU tin tưởng rằng, tranh chấp lãnh thổ nên được giải quyết theo quy định của luật pháp quốc tế thông qua những giải pháp hòa bình và hợp tác.
Giám đốc trung tâm EU - châu Á Fraser Cameron đã nói trong một diễn đàn tại Manila rằng, EU ủng hộ một hệ thống dựa trên luật lệ quốc tế và tự do hàng hải. Với các nguy cơ căng thẳng tác động đến thương mại và đầu tư cũng như tầm quan trọng ngày một lớn của an ninh năng lượng, EU khuyến khích tất cả các bên làm rõ những căn cứ cho tuyên bố chủ quyền của mình.
Theo EU, Biển Đông là một môi trường nhạy cảm, là lộ trình hàng hải lớn nhất sau Địa Trung Hải và là hành lang quan trọng cho thương mại EU đến và đi từ khu vực Đông Á - nơi chiếm 25% vận chuyển hàng hóa hàng hải thế giới. Đây cũng là vùng quân sự nhạy cảm vì sự hiện diện hải quân Mỹ và Trung cộng cũng đang mở rộng các khả năng quân sự trong một khu vực. Biển Đông - nơi được cho là giàu tài nguyên dầu khí cũng là nơi diễn ra tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa Trung cộng và một số nước Đông Nam Á.
Kinh nghiệm EU
EU nhấn mạnh rằng, các nhân tố địa chính trị đang gia tăng với sự tham gia của hai cường quốc hạt nhân, Trung cộng và Mỹ. “EU không liên quan trực tiếp nhưng quan tâm tới vấn đề để thúc đẩy giải pháp hòa bình", Cameron nói.
Tuyên bố về quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được ký kết tháng 11/2002, kêu gọi các bên tham vấn và áp dụng biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. DOC cũng kêu gọi hợp tác trong vấn đề bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, tìm kiếm và cứu hộ, chống tội phạm xuyên quốc gia.
Các vụ đụng độ xảy ra trong năm 2010 và 2011 thường dính líu tới Trung cộng đã dẫn tới việc ngày 21/7 tại diễn đàn khu vực ASEAN và Trung cộng đã nhất trí về các hướng dẫn thực thi DOC. Các nước ASEAN hoan nghênh thỏa thuận này, dù một số nước cho rằng vẫn chưa đủ.
Trích dẫn các vấn đề hiện tại, ông Cameron cho rằng, còn những điều chưa chắc chắn về chủ quyền các đảo và tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở vùng biển xung quanh.
Biển Đông là nguồn cung cấp protein quan trọng cho 300 triệu người trong khu vực nhưng việc đánh bắt cá thường xuyên không có sự kiểm soát và ngư dân ở tất cả các nước ven biển thường nỗ lực khai thác tài nguyên hàng hải mà không có sự hạn chế nào. Việc khai thác tài nguyên quá mức và cách thức đánh bắt (như dùng thuốc nổ) rất nguy hiểm với môi trường. Không hề có công cụ đa phương để bảo vệ hệ sinh thái rất nhạy cảm của Biển Đông. Giao thông hàng hải trong vùng biển nhộn nhịp hàng đầu thế giới và tiếp tục phát triển nhanh chóng.
Dù ở cách xa châu Âu, nhưng EU đang có mối quan tâm lớn với khu vực. “EU có kinh nghiệm giàu có trong chia sẻ chủ quyền, giải quyết các vấn đề khó khăn (chính sách đánh bắt chung, môi trường) có thể hữu ích cho các quốc gia liên quan", ông Cameron nhấn mạnh.
Ví dụ như năm 1970, về nguyên tắc, có sự nhất trí rằng ngư dân EU cần có quyền tiếp cận bình đẳng vùng biển của các nước thành viên. Sau đó, các nước thành viên cũng quyết định rằng, EU là nơi tốt nhất để quản lý ngư nghiệp ở các vùng biển thuộc thẩm quyền của họ và bảo vệ các lợi ích của họ trong các cuộc đàm phán quốc tế.
Theo ông Cameron, mô hình EU có thể không thích hợp với châu Á nhưng khu vực này có thể chọn lựa một số khía cạnh. Kinh nghiệm của EU có thể liên quan tới Biển Đông bao gồm việc thành lập một chính sách ngư nghiệp chung, đưa ra hạn ngạch với các nước thành viên và trao đổi kinh nghiệp trong bảo vệ hàng hải, đàm phán cho các chuẩn mực cao hơn về môi trường với các nước ven biển và giải quyết tranh chấp.
EU sẵn sàng là bên thứ ba hữu ích để hỗ trợ kỹ thuật nhưng "cuối cùng để các nước liên quan giải quyết tranh chấp". Ông Cameron nhấn mạnh: “Giải pháp duy nhất khả thi trong thời gian dài là gạt sang bên tranh chấp và cùng phát triển".
Thái An (theo philstar)